Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Những vụ đắm tàu kinh hoàng nhất trong lịch sử

http://bocau.net/blog/bocaunews/10890-nhung-vu-dam-tau-kinh-hoang-nhat-trong-lich-su.html

1. Năm 1865 - SS Sultana (Hoa Kỳ): 1.547 người chết


Ngày 27/4/1865, tàu SS Sultana đã phát nổ trên sông Mississippi. Đây được coi là vụ tai nạn hàng hải nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Số người thiệt mạng được thống kê là 1.547 người.

SS Sultana là một tàu hơi nước, chạy trên tuyến đường sông nối giữa hai thành phố lớn St Louis và New Orleans. Vào thời điểm xảy ra tai nạn, ba trong bốn nồi áp suất của Sultana đã phát nổ. Trước đó, các nồi hơi nước này bị phát hiện có hỏng hóc nhưng không hề được thay thế mà chỉ được bảo dưỡng qua loa. Sau khi nổ, than từ hầm tàu văng ra và biến con tàu thành một "ngọn đuốc sống". Hành khách buộc phải nhảy xuống sông và nhiều người trong số họ đã chết vì giá lạnh. Ước tính có khoảng 700 đến 800 người được cứu sống trong thảm họa này. 

2. Năm 1912 - RMS Titanic (Anh): 1.514 người chết
Vụ đắm tàu nổi tiếng nhất lịch sử xảy ra vào ngày 14 và 15/4/1912. Sau khi va chạm với một tảng băng trôi, tàu Titanic đã chìm xuống biển sau chưa đầy 3 tiếng đồng hồ. Số người thiệt mạng trong thảm họa này là 1.514 người.

Lúc bấy giờ, Titanic là con tàu có tải trọng lớn nhất thế giới. Tai nạn xảy ra khi Titanic đang thực hiện chuyến hành trình đầu tiên sau khi hạ thủy từ Southampton, Anh đến New York, Mỹ. Chỉ có 710 người được cứu sống trong tổng số 2.224 hành khách và thủy thủ đoàn của con tàu.

 

Hình ảnh tàu Titanic đang bắt đầu chìm.

Mặc dù được trang bị vô cùng hiện đại song Titanic chỉ có đủ xuồng cứu sinh cho vẻn vẹn 1.168 người. Tuy nhiên, số người được cứu lại thấp hơn hẳn do sự sắp xếp không hợp lý ở những xuồng hạ thủy đầu tiên. Ví dụ xuồng cứu hộ số 7 với sức chứa 65 người nhưng được hạ thủy chỉ với 28 hành khách. Phần lớn các nạn nhân chết do sự giảm thân nhiệt khi phải ngâm mình trong nước có nhiệt độ -2 độ C.

Sự kiện chìm tàu Titanic đã làm chấn động thế giới và dẫn đến những thay đổi căn bản trong luật Hàng hải. Con thuyền cũng được đề cập nhiều trong giới văn học, nghệ thuật và đã được dựng thành phim mang tên chính con tàu “Titanic” của đạo diễn James Cameron năm 1997.

3. Năm 1948 - SS Kiangya (Trung Quốc): 3.920 người chết 


Ngày 4/12/1948, khi cách Thượng Hải 80km về phía Bắc, đoạn cửa sông Hoàng Phố, tàu SS Kiangya bất ngờ va phải mìn khiến phần đuôi tàu bị nổ. Số người thiệt mạng lên đến 3.920 người, phần lớn hành khách đi tàu là những người chạy nạn trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Ước tính có khoảng 700 đến 1.000 người đã được các thuyền khác cứu sống.

4. Năm 1987 - MV Dona Paz (Philippines): 1.749 người chết


Ngày 20/12/1987, Dona Paz đang trên đường từ đảo Leyte đến thủ đô Manila (Philippines) thì đâm phải tàu chở dầu Vector. Vụ va chạm đã khiến dầu trên tàu Vector bắt lửa, ngọn lửa ngay lập tức lan nhanh và bao trùm cả hai con thuyền. Thậm chí, lửa còn theo những vết dầu tràn trên mặt biển và thiêu sống những người đã nhảy xuống nước. Chỉ trong 4 giờ đồng hồ, hai con tàu đã chìm xuống đáy biển.

Tuy số người thiệt mạng được công bố chính thức là 1.749 người nhưng trên thực tế, số người tử vong lên đến hơn 4.300 người do có nhiều hành khách đi vé lậu. Chỉ có 26 người sống sót sau thảm họa này. Cuộc điều tra cho thấy con tàu chở dầu Vector hoạt động không có giấy phép và lúc xảy ra tai nạn, hầu hết các thủy thủ trên Dona Paz đang uống rượu.

5. Năm 2002 - MV Le Joola (Senegal): 1.936 người chết


Ngày 26/9/2002, chiếc phà MV Le Joola của Senegal bị lật úp ngoài khơi Gambia (phía Tây châu Phi) và cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.863 người.

MV Le Joola thuộc quyền sở hữu của chính phủ Senegal. Trong thời điểm gặp nạn, chiếc phà đang đi qua vùng biển có bão lớn. Nó đã bị lật úp chỉ trong vòng 5 phút khiến phần lớn hành khách không kịp thoát ra khỏi phà. Chỉ có 64 người được cứu sống trong tổng cộng hơn 2.000 hành khách. Lý do trực tiếp dẫn đến tai nạn thảm khốc này là do điều kiện thời tiết xấu. Song cũng không thể phủ nhận lỗi của con người khi chiếc phà đã chở quá số người quy định; thiết kế của phà chỉ cho phép chở khoảng 600 hành khách mà thôi.

tội ác diệt chủng

http://bocau.net/blog/vongthamtam/10913-bai-hat-cam-dong-phoi-bay-toi-ac-diet-chung.html

Pháp Luân Đại Pháp có một lịch sử rất xa xưa, được đơn truyền qua các thế hệ chỉ với duy nhất một người đệ tử. Ngày 13-5-1992, Ông Lý Hồng Chí đã bắt đầu truyền Pháp Luân Công ra ngoài xã hội ở thành phố Trường Xuân, đông bắc Trung Quốc với khoảng 180 người tham dự khóa giảng khi đó.
 
Sau đó các học viên bắt đầu luyện công thành nhóm tại công viên. Tháng 9 năm 1992, Pháp Luân Công được chính thức công nhận là một công phái dưới sự bảo trợ và quản lý của Hiệp hội nghiên cứu Khoa học Khí Công Trung Quốc. Được cho phép truyền giảng trên toàn quốc. Ông Lý được công nhận là "khí công sư" bởi Hiệp hội nghiên cứu Khoa học Khí Công Trung Quốc.

Từ năm 1992 đến 1994, Ông Lý Hồng Chí giảng 54 khóa học Pháp Luân Công trên khắp Trung Quốc với số lượng tham dự từ vài trăm đến 6000 người mỗi lần. Các khóa học kéo dài 8 đến 10 ngày, với khoảng 1 giờ rưỡi cho giảng Pháp ( các nguyên lý chỉ đạo việc tập luyện, và giữ gìn tâm tính của người học viên ) và nửa giờ cho thực hành.

Vì khả năng chữa bệnh kỳ diệu, Pháp Luân Công nhanh chóng lan truyền khắp Trung Quốc chỉ bằng cách truyền miệng. Các học viên Pháp Luân Công với lợi ích sức khỏe và tinh thần thông qua tu luyện Pháp Luân Công đã cống hiến rất nhiều cho xã hội, trở thành những người tốt mẫu mực, họ cũng góp phần giúp môn phái được truyền rộng đi toàn quốc. Các điểm luyện công xuất hiện trên khắp các công viên tại Trung Quốc. Các cuốn sách về Pháp Luân Công được xuất bản: cuốn "Pháp Luân Công Trung Quốc" xuất bản tháng 4, năm 1993; tháng 1, năm 1995 sách Chuyển Pháp Luân được xuất bản. Tại các điểm luyện công các học viên tình nguyện đảm trách hoạt động để quảng bá công pháp và hướng dẫn người mới tập miễn phí.

Tháng 9 năm 1995 Ông Lý bắt đầu giảng Pháp Luân Công ở nước ngoài, khởi đầu bằng một bài giảng ở Paris tại đại sứ quán Trung Quốc, theo lời mời của đại sứ Trung Quốc tới Pháp. Sau đó là một đợt thứ hai vào tháng năm Thụy điển, và sang các nước khác. Từ đó Pháp Luân Công được truyền lan ra khắp thế giới.

Với sự phát triển nhanh chóng, năm 1999 số học viên Pháp Luân Công đã lên đến trên 70 triệu học viên theo ước tính của chính phủ Trung Quốc. Cùng với sự lớn mạnh của công phái là sự lo ngại và ghen tỵ cá nhân từ Giang Trạch Dân - chủ tịch và tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc đó, đơn giản vì số học viên Pháp Luân Công đã vô tình vượt qua số Đảng viên Đảng Cộng Sản lúc đó là 60 triệu người. Một chiến dịch đàn áp bất hợp pháp đã được phát động từ 10 tháng 6 năm 1999 bởi Giang Trạch Dân mặc dù các điều tra không tìm thấy một chứng cớ nào chứng tỏ "Pháp Luân Công tham gia chính trị và hay gây ảnh hưởng xấu". Chiến dịch dựa trên sự " bôi nhọ danh dự, vắt kiệt tài chính, hủy hoại thể xác" đã gây tan vỡ hàng nghìn gia đình tại Trung Quốc.

Truy tố về tội diệt chủng

Ngày 18/11/1999 toà án Quốc gia Tây Ban Nha đã truy tố 5 quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc vì vai trò của họ trong tội ác tra tấn và diệt chủng chống lại các học viên Pháp Luân Công. Các bị cáo bao gồm: Cựu lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân; La Cán, người đứng đầu phòng 610; Bạc Hy Lai, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh và cựu Bộ trưởng Bộ Thương mại; Giả Khánh Lâm, một trong bốn thành viên cao nhất trong hệ thống Đảng cộng sản Trung Quốc và Ngô Quan Chính, Bí thư Ủy ban Kỷ luật Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc. Các bị can có từ 4 đến 6 tuần để trả lời sau đó có thể phải đối mặt với sự dẫn độ nếu họ đi tới một đất nước có hiệp ước dẫn độ với Tây Ban Nha, các bị can phải đối mặt với 20 năm tù giam và có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại kinh tế cho các nạn nhân.

Quyết định của tòa án dựa theo nguyên tắc thực thi pháp lý của thẩm quyền phổ quát – nguyên tắc cho phép tòa án bất kỳ nước nào cũng có thể thụ lý những vụ án liên quan đến các tội diệt chủng và tội ác chống lại loài người, không phân biệt nơi chúng xảy ra. Quyết định cũng dựa trên những báo cáo nhân quyền của tổ chức Ân xá quốc tế, tổ chức Quan sát nhân quyền, tổ chức sáng lập Luật nhân quyền và Ủy ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc , tất cả các tổ chức nhân quyền quốc tế có thẩm quyền và có ảnh hưởng.


Xem thêm :

Địa ngục trần gian ở đâu?

Pháp Luân Công - 10 năm bị đàn áp

Pháp Luân Công trên khắp thế giới

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012

Đọc & nghĩ, thứ ba- 3.1.2011

http://quechoa.info/2012/01/03/d%E1%BB%8Dc-nghi-th%E1%BB%A9-ba-3-1-2011/


+Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển bền vững: “Cùng với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong năm 2012, Chính phủ sẽ tiếp tục tăng cường ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội”, Thủ tướng nhấn mạnh thông điệp này nhân dịp đầu năm mới. Rất nhất trí với Thủ tướng. Rất mong đọc được bài viết của Thủ tướng về việc sử dụng nguồn vốn ODA
Báo Trung Quốc: “Việt Nam lại trở mặt, Bắc Kinh không còn đường thoái lui ở Nam Hải”: Từ khi bước vào thế kỷ mới đến nay, về vấn đề Nam Hải, Trung Quốc luôn áp dụng biện pháp xoa dịu đối với Việt Nam, đã ban cho Việt Nam một chút ân huệ, để có thể ngăn chặn được những hành vi khiêu khích của Việt Nam ở Nam Hải, từ đó mà phân hóa được sự liên hợp giữa Việt Nam với Philippines, khiến cho Philippines không thể vỗ được bằng một bàn tay ở Nam Hải. Nhưng chính sách xoa dịu của Trung Quốc đối với Việt Nam dường như không có hiệu quả như dự liệu, Việt Nam không hề cảm kích trước ân huệ của Trung Quốc, trái lại, còn gia tăng sự giễu võ giương oai ở Nam Hải.Láo toét. Cũng tại sự nhún nhường quá đáng của ta nên TQ mới lên giọng láo toét thế này.
+Bùi Quang Minh – Cuối năm bàn chuyện “đồng chí”…: Trong quan hệ đối ngoại quốc tế, chúng ta cũng đã phải thay đổi việc dùng từ “đồng chí” trong nhiều trường hợp cho phù hợp với các cá nhân và tổ chức. Các bạn và tôi sẽ phân vân dùng hay không dùng từ “đồng chí” với những tên chính khách quen thuộc sau đây: Pol Pot, Hoa Quốc Phong, Đặng Tiểu Bình, Fidel Castrô, Saddam Hussein, Mikhail Gorbachev, Raul Castro, Hugo Chavez, Muammar Gaddafi, Boris Yeltsin, Dmitry Medvedev… Sẽ là buồn cười nếu như bạn vừa gọi đồng chí với: Vladimir Putin và với Gennadi Zyuganov, với Kim Jong-Ill và với Lee Myung-bak, với Hồ Cẩm Đào và với Trần Thủy Biển… Rất khó làm đồng chí của cùng cả hai đối thủ chính trị sống mái với nhau như thế.  Từ  nay  ngoài đời nên bỏ cái sự  gọi nhau bằng đồng chí đi, nó vừa giả dối vừa vô lối. Chẳng quen biết nhau cũng đồng chí, nực cười.
+Quốc Phương:: Chỉnh đốn đảng để tránh ‘sụp đổ’?: Giáo sư Ngô Vĩnh Long, một chuyên gia am hiểu tình hình nội bộ của Việt Nam, cho BBC hay hội nghị trung ương đảng lần thứ tư, khóa XI vừa bế mạc đã lựa chọn chủ đề “chỉnh đốn đảng” dưới áp lực trong nước và tác động của biến động quốc tế năm qua. Giáo sư Long cũng nhắc đến khả năng có một thay đổi, điều chỉnh về nhân sự cấp cao của đảng, vốn có thể xảy ra vào dịp Đại hội giữa kỳ của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới đây. Ông nói: “Sau này Chủ tịch nước và Chủ tịch Đảng sẽ gộp lại thành một vị trí. Còn Đảng thì riêng rẽ. Có lẽ đây là lúc họ nghĩ phải tách rời Đảng khỏi nhà nước.”- Mình rất tâm đắc ý này với gs Ngô Vĩnh Long.
+Trương Duy Nhất: Trị đảng: Cái tít nghe ghê răng, nhưng cái ý này hay: “Muốn trị quốc phải trị đảng. Muốn trị đảng phải dựa vào dân! Đã trọng bệnh, không thể nằm đó mà tự “chùi rửa” cho mình được. Chỉ có dân mới có thể làm sạch đảng. Chỉ có “bác sĩ” dân mới trị được căn bệnh trầm kha trong đảng. Còn nếu đảng cứ tự “xây dựng chỉnh đốn” mãi, tự “đánh răng chùi rửa” mãi, thì không mong gì khỏi bệnh để… vững mạnh được!”
+Nguyễn Trọng Tạo: “GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN LƠ TƠ MƠ: HỘI NHÀ VĂN LÀ GÌ? Là PHONG TRÀO hay GIÁ TRỊ? Tôi nghĩ, cả hai.Nhưng khi trao giải, thì GIÁ TRỊ vẫn là trên hết.” Bác Tạo nói rất đúng,  coi thường giá trị, bỏ rẻ giá trị, chạy theo phong trào đó là cách giết chết Hội nhà văn một cách nhanh nhất. Nhưng thôi, không bàn chuyện cao xa, chỉ mong mấy ông BGK đọc kĩ cho cũng chẳng xong thì còn mong gì nữa đây?
+ Lê Dũng: Cháy trách nhiệm – khắc phục bằng gì ?: “Loanh quanh vẫn chỉ ở chuyện quản lý mấy thứ phục vụ đời sống thôi nhưng nhìn đâu cũng còn nhều bất cập. Không phải vì thiếu các nhà khoa học về quản lý, thiếu trợ lý, chuyên gia giúp việc, thiếu tâm hay thiếu tầm mà chung qui chỉ là thiếu trách nhiệm.” Hoàn toàn chính xác.
 +Văn hóa – thay đổi bắt đầu từ những cá nhân: “Văn hóa bị bỏ quên, bị xuống cấp nghiêm trọng trong thời buổi kim tiền? Vì sao sự dửng dưng, vô cảm nhiều thế trong đời sống thường nhật và cái ác hiện diện ở ngay những nơi ít ngờ nhất?” Hoan hô báo Tuổi trẻ đã bàn đến một đề tài rất hay. Nhưng báo Tuổi Trẻ hãy bắt đầu từ một cá nhân của báo, đó là Hoàng Khương để hiểu “vì sao sự dửng dưng, vô cảm nhiều thế”


Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Bắc Hàn

http://quechoa.info/2011/12/31/b%E1%BA%AFc-han-kh%C6%B0%E1%BB%9Bc-t%E1%BB%AB-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi/


BBC dẫn nguồn tin từ KCNA: “Chúng tôi trang trọng và quả quyết tuyên bố rằng các chính trị gia ngu ngốc trên khắp thế giới, bao gồm cả những kẻ bù nhìn ở Hàn Quốc, đừng có mong bất cứ sự thay đổi gì từ phía chúng tôi,”. Tuyên bố trong bối cảnh quốc tang của ông Kim Jong Il vừa diễn ra rầm rộ ở thủ đô Bình Nhưỡng.

Thế giới dường như muốn có một manh mối đổi thay nào đó từ cậu ấm Kim Jong Un trạc ba mươi tuổi. Nhưng thông cáo trên loan đi khi Jong Un được tôn sùng là lãnh đạo tối cao của đảng Lao Động nước này cũng như của nhà nước, quân đội.

          Cú lên gân chứng tỏ sức vóc đầu tiên của Jong Un là thông cáo loan đi từ hãng tin nhà nước Bắc Hàn. Một cú lên gân của nhà chính trị trẻ trung mà các bình luận gia nói là “chưa đủ tầm” nhưng chính thể Bắc Hàn nói là “nhà lãnh đạo xuất sắc”.
 
          Một hệ thống tham mưu của Bắc Hàn dường như muốn xu hướng bợ đỡ phát triển nên đã lồng vào đó cụm từ “các chính trị gia ngu ngốc trên khắp thế giới”. Hy vọng, Bắc Hàn không nói đến các chính trị gia của đồng minh thân cận Trung Quốc.
 
Rất có thể, bộ máy Bắc Hàn với nhiều nhân vật đang muốn có tầm ảnh hưởng hơn nắm được sở thích nịnh bợ của Jong Ul để cài đặt vào bản thông cáo đó câu chữ như thế nhằm gây ra các cuốn hút, chú ý của anh ta về một thứ trật tự mới dưới triều đại Jong Ul. Bởi hiện tại, Triều Tiên vẫn vận hành bộ máy của thời Kim Jong Il để lại. Tang của người được mạnh danh “cha của chúng ta” chưa đoạn, thì bộ máy của Bắc Hàn là con của ông ta, không thể thay thế sớm được. Nó phải có thời gian và lộ trình.

 Khi nói người anh em Nam Hàn là “những kẻ bù nhìn”, Bắc Hàn muốn chuyển các chú ý trong nước của thế giới sang chọc tức đồng minh thân cận Hoa Kỳ hòng lôi kéo sự chú ý nào đó về các hồi đáp ngoại giao. Cho đến nay chưa thấy truyền thông thế giới và Nam Hàn bình luận về vấn đề này.

Nhưng vì sao Bắc Hàn lại nhanh chóng tuyên bố một cách trịch thượng như thế sau cái chết của Kim Jong Il? Đó là thể hiện bộ máy trung thành với chế độ gia đình trị. Nó cũng là cách chứng thực đường lối phát triển của Jong Ul vẫn là vết xe đó. Nhưng quan trọng, và nguy hiểm nhất khi đưa ra luận điểm “chính trị gia ngu ngốc trên khắp thế giới”, Bắc Hàn đã khước từ thế giới, tứ cố hóa bản thân nhằm biến người dân thành công cụ nô dịch vĩnh viễn với cỗ máy quân đội khổng lồ.

  Người ta lo ngại người dân Bắc Hàn sẽ bần cùng, cực khổ hơn, và đối mặt với nạn đói nhiều hơn. Nhưng xem truyền hình lễ tang ông Kim Jong Il, người dân khóc ông rất nhiều, và cả biển người được phô trương khi đưa tang ông cho thấy Bắc Hàn rất thành công trong việc biến người dân có suy nghĩ đa chiều, đa diện thành vâng lệnh và cúi đầu thực hiện.

Thấy điều đó, hiểu rõ lo ngại với dân chúng Bắc Hàn là có lý, nhưng với cách điều khiển con người triệt để như thế của bộ máy quân đội Bắc Hàn, có lo ngại rằng, để chứng tỏ bản lãnh của “nhà lãnh đạo xuất chúng”, Jong Ul có xua quân đánh Nam Hàn hay không?, bởi họ đã ra tuyên bố “các chính trị gia ngu ngốc trên khắp thế giới”. Người ta hy vọng, suy diễn đó không xảy ra, nhưng tình hình Triều Tiên về mặt kỹ thuận vẫn trong tình trạng chiến tranh. Quân đội Bắc Triều gấp đôi quân đội Nam Triều. Biết đâu, một hành động nịnh bợ lấy lòng sẽ ru ngủ được khối trí óc “xuất chúng” đó như thông cáo vừa được đưa ra?!


Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

TÀI LIỆU TUYỆT MẬT CỦA KGB TIẾT LỘ: LENIN LÀ NGƯỜI GỐC DO THÁI

http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/06/tai-lieu-kgb-cho-thay-lenin-la-nguoi.html



Một trong những tài liệu xếp hạng tuyệt mật của KGB về Vladimir Ilici Lenin: Người sáng lập ra nhà nước Liên Xô, Lenin là người mang dòng máu Do Thái được truyền từ đời ông của mẹ Lenin…

Tài liệu mật của KGB cho rằng những hậu duệ của Lenin sau này đã bị đấy ra khỏi Moscova do xuất phát từ chính sách kỳ thị người Do Thái của Stalin…
Bắt đầu từ những năm 30, chính quyền Xôviêt dưới sự điều hành của Stalin đã thi hành hàng loạt tội ác chống lại người Do Thái…
Lenin sinh năm 1870, ông cũng giống như bao đưa trẻ bình thường người Nga khác. Tiểu sử cá nhân ghi ông có gốc người Nga, Đức và Thụy Điển…Thế những một trong những bằng chứng đã được phát lộ, đó là bức thư của Ana Ulianova, người chị của Lenin gửi cho Stalin năm 1932, sáu năm sau khi Lenin qua đời…Bức thư đã cho biết ông của Lenin xuất thân từ trong một gia đình Do Thái nghèo và là con của cụ Moses Blank…
Cụ Blank sinh ở Jitomir ở Ucraina. Trong thư, Anna đã đề nghị Stalin truy tìm nguồn gốc Do Thái của Lenin…và bà cho rằng thật sai lầm nếu như tìm cach che dấu dân Do Thái…
Với bức thư này, Stalin đã lệnh cho Annei Ulianova giữ kín bí mật về nguồn gốc Do Thái của Lenin…Một thời gian sau, Stalin đã tìm cách loại những người Do Thái ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo cách mạng cao cấp…
Trước khi chết vào năm 1953, Stalin đã chuẩn bị chuyển tất cả dân Do Thái đến các trại tập trung ở Siberia…

ÔNG HOÀNG ĐỨC NHÃ NÓI VỀ VỤ TRUNG QUỐC ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA

http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/12/ong-hoanh-uc-nha-noi-ve-trung-quoc-anh.html



Lữ Giang.
Đài BBC đã cho phổ biến trong hai ngày 1 và 3.10.2011 bài phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã về vấn đề Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và vấn đề Hoàng Sa do Quốc Phương thực hiện.
Ông Hoàng Đức Nhã là cựu bí thư của Tổng Thống Thiệu và là cựu Tổng Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi VNCH dưới thời Tổng Thống Thiệu. Ông cho biết ông đã làm việc với Tổng Thống Thiệu từ tháng 10/1967 đến 1975.
 
Trước đó, nhân kỷ niệm 10 năm cố Tổng Thống Thiệu qua đời (29.9.2001-2011), đài BBC cũng đã phỏng vấn ông Nhã về ông Thiệu và cho phổ biến trong các ngày 23, 26 và 29.9.2011. Ông Nhã cho rằng thất bại của Miền Nam được "định đoạt bởi Hoa Kỳ", nhưng ông không giải thích tại sao Mỹ bỏ VNCH mà không bỏ Nam Hàn và Đài Loan. Những lời ông phát biểu hoàn toàn trái ngược với các bằng chứng lịch sử mà Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã công bố trong hai cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (2005) và “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” (2010), và những bằng chứng lịch sử mà chúng tôi đã đưa ra.
 
Nhìn chung, ông Nhã có trình độ nhận định chính trị rất tầm thường nên không thể biết được những gì đã xẩy ra cho VNCH, nhất là những mặt trái đàng sau. Chúng tôi sẽ cho ông Nhã thấy Mỹ đã dùng Tướng Khiêm và Tướng Thiệu lật đổ ông Diệm và đưa ông Thiệu lên làm Tổng Thống VNCH để làm gì, tại sao Hoa Kỳ chọn ông Thiệu, và họ đã đánh lừa ông Thiệu như thế nào để ông ta tự ý quyết định rút khỏi Cao Nguyên và miền Bắc Trung Phần không theo binh pháp nào, khiến Miền Nam bị mất và hàng triệu người lâm cảnh điêu linh. Nhưng hôm nay chúng tôi chỉ muốn nói đến cách nhìn và phản ứng của Tổng Thống Thiệu khi vụ Hoàng Sa xẩy ra theo như sự tường thuật của ông Hoàng Đức Nhã
 
LỜI KỂ CỦA HOÀNG ĐỨC NHÃ
Đài BBC cho biết trước tiên ông Nhã thuật lại phản ứng của cố Tổng thống Thiệu khi được biết Trung Quốc chiếm Hoàng Sa:
"Tổng thống Thiệu đã ra lệnh phải giữ vững lãnh thổ bằng bất cứ giá nào và đồng thời về phía chính trị, ông huy động toàn bộ bộ máy ngoại giao của chúng ta (VNCH) phản kháng. Đặc biệt hỏi thẳng Đại sứ Hoa Kỳ.”
 
Ông Nhã thuật lại đã chất vấn Đại sứ Hoa Kỳ lúc đó, Graham Martin, về điều mà ông cho là "khó tin" trong việc Hoa Kỳ "không biết" trước về động thái tấn công của Hạm đội hải quân Trung Quốc tấn công quần đảo này vào tháng 01 năm 1974:
Ông Nhã tiết lộ: "Chính tôi đã hỏi thẳng Đại sứ Hoa Kỳ: sao phía Hoa Kỳ thấy như vậy, với bao nhiêu phương tiện quan sát trên máy bay, từ biển, trên phương diện điện tử, có thể thấy rõ sự di chuyển của hạm đội Trung Quốc mà sao không cho phía VNCH biết." 
 
"Ông Đại sứ Martin nói với tôi 'cái chuyện đó chúng tôi không thể nào thấy được' thì tôi nhớ chỉ cười và nói 'khi các ông thấy được một người lính cộng sản di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh, mà không thấy được một hạm đội của Trung Quốc tiến về Hoàng Sa thì đó là một chuyện khó tin."
 
Ông Nhã cho rằng tới nay vẫn còn nhiều giả thuyết vì sao Hoa Kỳ đã "làm ngơ," và Trung Quốc đã chiếm quần đảo này vào thời điểm đó:
"Có giả thuyết nói Hoa Kỳ phải nhượng bộ cái đó cho Trung Quốc để nhờ Trung Quốc áp lực cho cộng sản Bắc Việt thi hành Hiệp định Paris... Rồi có thể Trung Quốc thấy lúc đó Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam, đây là cơ hội để họ chiếm cái đảo mà theo họ có rất nhiều dự trữ dầu hỏa, khí đốt."
 
ÔNG THIỆU MẮNG ÔNG NIXON
 
Sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, ngày 22.1.1974, Tổng Thống Thiệu đã gởi cho Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon một văn thư như sau:
Kính gởi: Ngài Richard Nixon, Tổng Thống Hoa Kỳ,
Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C.
Kính thưa Tổng Thống,
 
“Tôi mong Tổng Thống lưu tâm đến tình trạng nghiêm trọng hiện nay gây nên bởi hành động quân sự của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong vùng quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam. 
 
“Việc tôi tiếp xúc trực tiếp với Tổng Thống trong cách thức khẩn cấp này phản ảnh sự quan tâm lớn lao của tôi trước những biến chuyển gần đây ở nơi ấy.
 
“Tôi tin Tổng Thống nhận thức rõ những hành động chiến tranh Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gây ra ở quần đảo Hoàng Sa là sự vi phạm trắng trợn chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của VNCH. Chủ quyền của quốc gia chúng tôi trên những hòn đảo này được dựa trên lịch sử, điạ lý và những căn bản pháp lý cũng như dựa trên sự kiện VNCH từ lâu đã thực thi việc cai quản một cách hữu hiệu trên những đảo này.
 
“Ngày 11 tháng 1 năm 1974 Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã đưa ra bản tuyên cáo đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo này, và Bộ Ngoại Giao của chúng tôi đã lập tức bác bỏ luận điệu vô căn cứ của họ.
 
“Tiếp theo yêu sách ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ quốc gia chúng tôi. Họ đã đưa binh sĩ và chiến hạm vào trong khu vực các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa và đã đổ bộ quân lính lên các đảo này.
 
“Để đối phó với các hành động gây chiến và để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia của VNCH, lực lượng Hải quân Việt Nam hiện diện trong vùng đã ra lịnh cho lực lượng xâm nhập rút ra khỏi vùng.
 
“Thay vì tuân lệnh, các chiến hạm Trung Cộng từ ngày 18 tháng 1 năm 1974 đã chọn thái độ gây hấn với lối vận chuyển khiêu khích và đã tác xạ vào các toán lính và các đơn vị Hải Quân đưa đến sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất.
 
“Ngày 20 tháng 1 năm 1974 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gia tăng mức độ chiến tranh. Họ đưa phi cơ vào oanh tạc 3 đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa, trên các đảo này có quân của VNCH trú đóng và ngoài ra họ cũng đã đổ bộ quân lính để chiếm đoạt những đảo này.
 
“Sự gây hấn hiện tại đối với VNCH không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của VNCH mà còn tạo nên mối hiểm họa cho nền hòa bình và sự ổn định trong vùng Đông Nam Á. Điều này hoàn toàn đi ngược lại văn tự và tinh thần của Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải.
 
“Bằng cách công khai xử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, Trung Cộng đã ngang nhiên vi phạm luật quốc tế, hiến chương Liên Hiệp Quốc, hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà họ đã cam kết tôn trọng và chứng thư sau cùng ngày 2 tháng 3 năm 1973 của hội nghị thế giới về Việt Nam mà Trung Cộng là một nước ký tên vào. Trên thực tế, điều khoản 1 của hiệp định Paris và điều khoản 4 của chứng thư sau cùng đã là một sự giao ước cho tất cả các nước, nhất là cho các nước ký vào chứng thư là phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ cuả Việt Nam.
 
“Sự đe dọa nghiêm trọng đến nền hòa bình đang diễn ra và chỉ có thể tránh khỏi nếu Trung Cộng bị bắt buộc chấm dứt vai trò của kẻ xâm lược và hành động hiếu chiến đối với VNCH.
“Sự lấn chiếm lãnh thổ VNCH của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không những vi phạm trắng trợn luật pháp và trật tự quốc tế mà còn tạo nên nghi ngờ về sự hiệu lực của hai thành quả đáng kể nhất trong chánh sách ngoại giao của Tổng Thống, đó là Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải và hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.
 
“Vì thế tôi viết thư này đến Tổng Thống để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ hết lòng hỗ trợ chúng tôi về vật chất và chánh trị cần thiết mà chúng tôi cần đến để đưa đến sự phục hồi nguyên trạng và dàn xếp êm đẹp việc tranh chấp quốc tế trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 
“Nhân cơ hội này, tôi xin đoan chắc lại với Tổng Thống lòng qúy mến sâu xa của tôi.”
Ký tên: Nguyễn Văn Thiệu 
 
Bức thơ này do ông Kỳ, Phụ Tá Đặc Biệt Chánh Trị của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc mang đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trưa ngày 23.1.1974 và đã được Đại Sứ Martin chuyển về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào lúc 6 giờ chiều. 
 
Thay vì viết thư trả lời cho Tổng Thống Thiệu, khoảng 3 tuần sau, Tổng Thống Nixon đã gởi điện văn cho Đại Sứ Martin chỉ thị đến gặp và nói chuyện trực tiếp với Tổng Thống Thiệu về quan điểm của Hoa Kỳ. Chúng ta không thể biết được một cách chính xác nội dung cuộc nói chuyện đó như thể nào. 
 
KHÔNG BIẾT “ĐỒNG MINH” LÀM GÌ!
Đọc những lời biện bạch của ông Hoàng Đức Nhã và văn thư Tổng Thống Thiệu gởi Tổng Thống Nixon, chúng ta thấy tầm nhìn của hai nhân vật này quá thấp và quá ngắn, Họ không biết “Đồng Minh” đang làm gì, Miền Nam mất là chuyện không có gì khó hiểu.
 
1.- Vần đề giữ vững lãnh thổ
Ông Hoàng Đức Nhã cho biết: "Tổng thống Thiệu đã ra lệnh phải giữ vững lãnh thổ bằng bất cứ giá nào và đồng thời về phía chính trị, ông huy động toàn bộ bộ máy ngoại giao của chúng ta (VNCH) phản kháng…”
 
Khi ra lệnh như vậy, hoặc Tổng Thống Thống không nắm vững tương quan lực lượng giữa hai bên khi hải chiến trên biển, hay biết nhưng cứ “cương” để tránh trách nhiệm, còn sống chết mặc bay! Đó là bản chất của ông Thiệu. 
 
Chúng tôi đã trình bày về tương quan lực lượng giữa hai bên trong bài “Hoa Kỳ tiết lộ về Hoàng Sa”: Trung Quốc đã xử dụng một lực lượng Hải Quân hùng hậu gồm hơn 16 chiếc đủ loại, từ tàu đánh cá ngụy trang Nan Yu cho đến hai 2 chiến hạm loại Hainan 281, 282, 2 chiến hạm loại Jiangnan 271, 274 và 4 Phi Tiển Đỉnh Komar mang số 133, 137, 139, 145. Trong khi đó, lúc đầu HQ/VNCH chỉ có Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16. Những ngày tiếp theo HQ/VNCH mới tăng cường thêm các chiến hạm HQ 4, HQ 5 và HQ 10.
 
Đặc biệt chúng tôi nhấn mạnh: khi thực hiện “Việt Nam hoá” chiến tranh theo đúng lịch trình của kế hoạch “Accelerated Turnover to the Vietnamese” (ACTOV), Hoa Kỳ có giao cho  HQ/VNCH một số chiến hạm nhưng họ đã gỡ đi các giàn phóng phi đạn được trang bị trên đó, trong khi nhiều chiến hạm Trung Quốc có trang bị giàn phóng phi đạn và được không quân yểm trợ.
 
Xin nói rõ thêm Trung Quốc đã xử dụng 4 phi tiển đỉnh 70 tấn loại Komar được trang bị hỏa tiển hải-hải loại Styx. Tài liệu do Tổng Cục Chiến tranh Chính Trị của Quân Lực VNCH phổ biến nói rõ chiến hạm HQ 10 của VNCH đã bị trúng hỏa tiển Styx của Trung Quốc.
 
Như vậy, dù đánh cận chiến hay đánh ở tầm xa, HQ/VNCH cũng không thể chống lại Trung Quốc được. Lúc đó, Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH ra lệnh lực lượng đang chiến đâu rút lui là đúng.
 
2.- Việc Hoa Kỳ không thông báo
Ông Nhã cho biết chính ông đã hỏi thẳng Đại sứ Hoa Kỳ tại sao Hoa Kỳ có thể thấy rõ sự di chuyển của hạm đội Trung Quốc mà không cho phía VNCH biết. Khi hỏi như thế, ông Nhã đã tỏ ra không nắm vững tình hình.
 
Trong bài “Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa”. Chúng tôi đã nói rõ Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn cho biết có khoảng 17 chiến hạm Trung Quốc và 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa. Ông ta cũng cho biết các phản lực cơ chiên đấu của Trung Quốc sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công các chiến hạm của VNCH. Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH biết rõ hàng không mẫu hạn USS Enterprise của Hạm Đội 7 đang có mặt trong vùng sắp xẩy ra cuộc chiến nên đã yêu cầu cho phi cơ VNCH hạ cánh xuống USS Enterprise để được tiếp liệu xăng, nhưng Hoa Kỳ từ chối.
 
3.- Lý do tấn công của Trung Quốc
Trong bài “Tái hiện tin mật về xung đột Trung – Việt trong trận hải chiến Tây Sa năm 1974” của Trung Quốc đăng trên website canglang.com, Trung Quốc cho biết sở dĩ họ phải mở cuộc tấn công vì từ tháng 8 năm 1973, sau khi Mỹ rút, Nam Việt đã liên tiếp đưa tàu quân sự xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc. 
 
Trong thực tế không có chuyện đó. Đầu năm 1974, QL/VNCH chỉ cho chiến hạm HQ 16 chở quân ra thay toán quân đã mãn hạn ở Hoàng Sa mà thôi.
 
Sở dĩ Trung Quốc đã đưa quân chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974 vì sợ đảng CSVN “quỵt nợ" hay “xù nợ” sau khi chiếm được Niền Nam nên đã ra tay trước. Năm 1958, để có đủ viện trợ đánh chiếm Miền Nam, qua công hàm ngày 14.9.1958, Hà Nội đã bán Hoàng Sa cho Bắc Kinh. Do đó, Trung Quốc phải “xiết nợ” trước trước khi đảng CSVN chiếm Miền Nam cho chắc ăn.
 
4.- Vấn đề Mỹ không can thiệp
Khi gởi văn thư đề ngày 22.1.1974 cho Tổng Thống Nixon trách Mỹ đã không can thiệp như đã cam kết, Tổng Thống Thiệu chẳng hiểu gì tình hình ở Mỹ. Ông Bùi Diễm, Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền của VNCH tại Hoa Kỳ cũng không báo cáo gì cho Tổng Thống Thiệu biết.
Ngày 29.6.1973 Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á. Dự luật nầy đã được lưỡng Viện thông qua ngày 21.9.1973. Đến ngày 12.10.1973, lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc.
 
Quan trọng hơn cả, ngày 7.11.1974, lưỡng viện Quốc Hội đã vượt qua quyền phủ quyết của Tổng Thống Nixon, thông qua “Nghị quyết về Quyền Chiến Tranh” (War Powers Resolution) thường được gọi là “Đạo Luật về Quyền Chiến Tranh” (War Powers Act), vì nghị quyết này nó có giá trị như luật, sửa đổi Tiết 50, Chương 33, gồm các điều từ 1541 đến 1548 của Bộ Luật Liên Bang (United States Code). Nghị quyết này đòi hỏi Tổng thống trong mọi trường hợp có thể, phải tham khảo ý kiến với Quốc Hội trước khi đưa Quân Lực Hoa Kỳ vào những tình trạng chiến tranh hoặc vào những tình huống sắp xảy ra chiến tranh, và sau mỗi lần đưa quân tham chiến như vậy sẽ tham khảo thường xuyên ý kiến với Quốc hội cho đến khi Quân Lực Hoa Kỳ không còn tham gia vào chiến sự hay rút ra khỏi các tình huống như vậy.
 
Các đạo luật nói trên cho thấy chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định “đóng cửa rút cầu” không còn muốn cho quân đội Hoa Kỳ dính líu đến cuộc chiến ở Đông Dương nữa. Việc hình thành các đạo luật này được tranh luận rất ồn ào trên các cơ quan truyền thông của Hoa Kỳ, cả thế giới đều biết, chỉ Tòa Đại Sứ VNCH tại Wasington DC và Tổng Thống Thiệu không quan tâm tới!
 
Tôi nhớ trong năm 1974 Tổng Thống Thiệu có nhờ một phái đoàn Thượng Viện VNCH qua Mỹ vận động xin thêm viện trợ. Phái đoàn do Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Văn Thành, Chủ tịch Ủy Ban Ngân Sách Thượng Viện cầm đầu. Khi về, phái đoàn đã thuyết trình tại Dinh Độc Lập do Trung Tướng Đặng Văn Quang chủ tọa. Tôi cũng được đi theo nghe. Thượng Nghị Sĩ Thành cho biết ông và phái đoàn đã gặp một số dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ. Họ đều nói rằng trong hiện tại họ không thể làm gì được. Họ khuyên VNCH nên tìm một đường lối để tồn tại và đợi khi tình hình cho phép, họ sẵn sàng giúp đỡ.
 
Tôi thấy đây là những lời khuyên rất chân thành, nhưng với trình độ chính trị thấp kém, Tổng Thống Thiệu không quan tâm đến, ông cứ ôm chặt mấy lá thư bảo đảm không còn giá trị của Tổng Thống Nixon và chôn sống VNCH.
 
Ngày 27.12.2011
 
Lữ Giang

Những phát hiện ấn tượng, kỳ lạ nhất năm 2011

http://bocau.net/blog/thegioiquanhta/10651-nhung-phat-hien-an-tuong-ky-la-nhat-nam-2011.html


Các nhà khoa học đã có nhiều phát hiện về tự nhiên và vũ trụ vô cùng ấn tượng trong năm 2011, từ hành tinh sinh đôi với Trái đất cho đến cá mập khổng lồ và cá sấu to như khủng long tại Philippines. Dưới đây là những phát hiện gây được sự chú ý nhất, theo kênh truyền hình nổi tiếng National Geographic.

1. Hành tinh giống Trái đất nhất
 
Một hành tinh mới đã được tìm thấy cách Trái đất khoảng 36 năm ánh sáng với môi trường và hình dáng giống Trái đất nhất từ trước tới nay – với điều kiện nó được mây che phủ khoảng 50% diện tích.
 

Với tên gọi HD85512b, hành tinh này đang tồn tại trong chòm sao Vela. Các nhà thiên văn đã phát hiện ra nó nhờ Kính viễn vọng HARPS đặt tại Chile.
Dữ liệu của HARPS cho thấy HD85512b có trọng lượng gấp 3,6 lần Trái đất và quay quanh sao mẹ ở khoảng cách hoàn toàn phù hợp để nước có thể tồn tại dưới dạng lỏng trên bề mặt hành tinh.
 
2. Thanh gươm của vua cướp biển?
 

Liệu đây có phải là thanh gươm từng nằm trong tay tên cướp biển nổi tiếng nhất mọi thời đại Blackbeard? Không có cách nào để trả lời chắc chắn, dù rằng nó được tìm thấy ở gần con tàu đắm của hắn – Queen Anne’s Revenge được coi là nỗi khiếp đảm của mọi tàu bè đi lại khu vực châu Mỹ trong suốt thế kỷ 18 và hiện đang nằm sâu dưới mặt nước ở vùng vịnh Bắc Carolina (Mỹ).
Kể từ năm 1997, các nhà khảo cổ học đã lùng sục khắp Queen Anne’s Revenge. Họ chỉ tìm thấy những mảnh vỡ của thanh gươm này nhưng đã cố gắng ráp lại như trong hình và chính thức công bố trên báo hồi tháng Một.

3. Thành phố tuyệt tích của nền văn minh Maya
 

Nhà khảo cổ học Brigitte Kovacevich đã có được một phát minh để đời khi gập mình bò trong đường hầm bí mật bên trong kim tự tháp Maya tại Head of Stone, một thành phố cổ xưa của nền văn minh Maya.
 
Nằm ẩn mình trong rừng rậm qua bao thế kỷ, cuối cùng thì thành phố bị lãng quên Holtun, hay Head of Stone cũng bị khoa học phát hiện. Dù người dân địa phương vẫn biết khu vực này có cất giấu một bí ẩn to lớn, nhưng chỉ có khoa học mới tìm hiểu được chính xác Holtun là gì.
 
Một bản đồ ba chiều đã “xóa sạch” hàng thế kỷ phát triển của rừng rậm Guatemala, hé lộ hình ảnh của gần một trăm tòa nhà kiên cố, hoành tráng. Sử dụng công nghệ GPS và đo khoảng cách điện tử hiện đại, các nhà khoa học đã xác định vị trí và kết cấu của kim tự tháp cao 7 tầng này. Theo phán đoán, đây chính là đài quan sát thiên tượng, tòa xử án của người Maya xưa. Thậm chí một số phòng trong kim tự tháp còn có thể là lăng mộ chôn những vị vua đời đầu của thành phố, Kovacevich chi biết. “Dù không phải là New York hay Los Angeles của nền văn mình Maya xưa, nhưng ít nhất, Head of Stone cũng phồn thịnh và quan trọng giống như Atlanta vậy”, nhà khảo cổ này so sánh.
 
4. Thêm một hành tinh sinh đôi với Trái đất
 

Người anh em mới nằm cách Trái đất khoảng 600 năm ánh sáng, cũng quay quanh một mặt trời và được kính thiên văn Kepler của NASA phát hiện hồi cuối tháng 11 vừa qua. Các nhà khoa học cho biết, Kepler-22b quay quanh mặt trời theo một quỹ đạo dài 290 ngày, ngắn hơn quỹ đạo 365 ngày của Trái đất. Khoảnh cách từ Kepler-22b tới mặt trời  của nó gần hơn 15% so với khoảng cách giữa Trái đất với Mặt trời. Khoảng cách này được đánh giá là “phù hợp với sự sống”, không quá gần để bị thiêu đốt và không quá xa để bị đóng băng bề mặt, tạo điều kiện cho nước tồn tại ở dạng lỏng trên hành tinh này.
 
5. Bắt được cá mập trắng khổng lồ
 

Hồi tháng Năm, một nhóm thám hiểm đã bắt được một con cá mập trắng lớn nhất từ trước tới nay với chiều dài thân lên tới 5,5 m. Nhóm nghiên cứu đã đeo một nhãn theo dõi điện tử cho nó, lấy mẫu máu để nghiên cứu trước khi thả nó trở về đại dương.
Trước đó, con cá mập to nhất mà nhóm này từng bắt gặp có chiều dài thân 5,1 m, họ cho biết.

6. Loại nấm biến kiến thành thây ma
 

Một họ nấm vừa được phát hiện ở vùng rừng nhiệt đới Brazil đã gây sửng sốt cho toàn bộ giới sinh học. Một khi đột nhập thành công vào cơ thể kiến thợ, nấm này sẽ mọc xuyên qua da đầu và biến kiến thành “thây ma” (zombie). Một con kiến zombie sẽ mất quyền điều khiển lý trí và hoàn toàn chịu theo sự sai khiến của nấm. Nấm sẽ điều khiển kiến đi lang thang, tìm kiếm khu vực sống lý tưởng sau đó ra lệnh cho kiến tự tử, trở thành thức ăn cho lứa nấm mới tái sinh. Theo các nhà khoa học, có tới 4 loại nấm ma kiểu này.
 
7. Phát hiện cá sấu khổng lồ tại Philippines
 

Bị bắt sống sau ba tuần săn lùng, một con cá sấu nước lợ dài tới 6,4 m đã sa lưới tại Philippines hồi tháng 9. Theo báo chí, đây có lẽ là con cá sấu to nhất từng phát hiện được. Bên cạnh chiều dài khủng, cân nặng của con quái vật cũng lên tới 1075 kg. Người ta tình nghi cá sấu đã tấn công vài người dân và giết chết hai người trước khi bị bắt.
Trong sách Kỷ lục Guiness đang ghi nhận con cá nước lợ lớn nhất từng bị bắt là tại Úc với chiều dài thân 5,48m. Tuy nhiên theo chuyên gia Adam Britton, quy định của Guinesss sẽ buộc Lolong – tên con cá sấu tại Philippines – phải chờ ít nhất đến tháng 3/2012 mới được ghi nhận danh hiệu chính thức.
 

8. Tìm thấy cá mập bạch tạng một mắt
 

Một con cá mập bạch tạng cực kỳ hiếm đã được tìm thấy tại Mexico hồi tháng 10 với chiều dài thân khoảng 56 cm. Sinh vật này chỉ có duy nhất một mắt ở chính giữa trán, hậu quả của việc đột biến gene vì bạch tạng.
Các tài liệu ghi lại cá mập bạch tạng cũng có lác đác trước đó trên thế giới, tuy nhiên, chính vì hiện tượng này quá hiếm gặp nên bản thân các nhà khoa học cũng chưa tin đây là cá mập thật khi hình ảnh đầu tiên của nó xuất hiện trên mặt báo.