Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013
Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013
Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013
Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013
Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013
Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những từ ngữ đã đi vào quá khứ
http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/ngon-ngu-sai-gon-xua-nhung-tu-ngu-i-vao.html
Chính phủ VNCH cho in và phổ biến Giấy thông hành nhằm mục đích giúp các cán binh, du kích trở về với quốc gia. Phần trên của Giấy thông hành có cờ VNCH và cờ của các quốc gia tham chiến gồm Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Thái Lan, Đại Hàn, Tân Tây Lan và Phi Luật Tân. Giấy thông hành được viết bằng 4 ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đại Hàn và tiếng Thái. Phần dưới có nội dung như sau:
Những cán binh trở về với Chính phủ VNCH được gọi là người hồi chánh hay hồi chánh viên. Trong số những người hồi chánh có ca sĩ Bùi Thiện và Đoàn Chính (con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn), nhà văn Xuân Vũ (tác giả hồi ký Đường Đi Không Đến và Vượt Trường Sơn, đã qua đời tại Texas năm 2002), Trung Tá Lê Xuân Chuyên (bị chính quyền mới xử tử hình vào ngày 30/4/1975), Trung tá Tám Hà, Trung tá Phan Văn Xưởng, Trung tá Huỳnh Cự…
Chiêu hồi, ngoài ý nghĩa chính trị còn được dùng như động từ để chiêu dụ ai đó, chẳng hạn như trong câu: “Hắn đã ‘chiêu hồi’ được một tay chọc trời khuấy nước về làm việc dưới trướng”. Gần đây, trên http://nguoivietblog.com/hagiang/?p=497, tác giả Tam Thanh có một bài viết với tiêu đề “Chiêu hồi” ngôn ngữ, bàn về cách dùng khác nhau và ý nghĩa đúng-sai của những từ ngữ xuất xứ từ miền Nam và miền Bắc.
Nhân vật “nằm vùng” thứ hai là Phạm Xuân Ẩn [4] là một thiếu tướng tình báo của Hà Nội với biệt danh Trần Văn Trung hay Hai Trung. Trong suốt thời gian chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn sống tại Sài Gòn dưới vỏ bọc “ký giả” làm việc tại Việt tấn xã, cộng tác với hãng thông tấn Reuters và có nhiều bài viết trên tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor...
Vũ Ngọc Nhạ [5], Thiếu tướng tình báo của Hà Nội cũng là một trường hợp “nằm vùng” ngay trong đầu não của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam, kéo dài từ năm 1954 đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Miền Bắc ca tụng ông là “điệp viên siêu hạng” với những “điệp vụ bất khả thi” trong “vụ án chính trị lớn nhất thời đại”.
Ở trường Sinh ngữ Quân đội, một đơn vị tương đối nhỏ trong quân lực VNCH, cũng đã có vài trường hợp “nằm vùng”. Nổi bật nhất có Đại úy TVQ và Thiếu úy NCD. Đại úy Q. là người từ đơn vị chuyển về trường SNQĐ khi nhu cầu huấn luyện Anh văn cho quân đội tăng cao do chương trình Việt Nam hóa chiến tranh nhằm đào tạo quân nhân các binh chủng Hải-Lục-Không quân VNCH đi học chuyên môn tại Hoa Kỳ để về nước đảm nhận công việc của quân đội Mỹ.
Ngôn ngữ là phương tiện trao đổi ý tưởng trong cuộc
sống hàng ngày. Thế cho nên, ngôn ngữ cũng phải thay đổi theo cách sống
và lối sống của từng thời kỳ. Sự kiện tháng 4/1975 là một cột mốc
thay đổi lớn nhất trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của
người miền Nam, kéo theo sự mai một của một số từ ngữ vốn đã dùng
quen hàng ngày.
Thay đổi sâu rộng nhất là cả một hệ thống chính
trị tại miền Nam
cho nên những từ ngữ có liên quan đến ý thức hệ cũ dần dần đã đi
vào quá khứ. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Bài viết này
có mục đích ghi lại những từ ngữ đã một thời phổ biến trong xã
hội miền Nam để những thế hệ kế tiếp có thể hiểu được những gì
cha ông đã thường nói trong cuộc sống hàng ngày.
Chiêu hồi là một
trong những từ ngữ của Sài Gòn xưa và sẽ dần dần đi vào quên lãng.
Đây là một chương trình do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đề ra để khuyến khích
các thành phần vũ trang của Mặt trận Giải phóng miền Nam và Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa buông súng quay về với phe chính phủ. Vận động tuyên truyền
được thực hiện dưới nhiều hình thức: truyền đơn thả từ máy bay hoặc qua
những chương trình phát thanh và đài phát thanh [1].
Giấy Thông Hành
Chính phủ VNCH cho in và phổ biến Giấy thông hành nhằm mục đích giúp các cán binh, du kích trở về với quốc gia. Phần trên của Giấy thông hành có cờ VNCH và cờ của các quốc gia tham chiến gồm Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Thái Lan, Đại Hàn, Tân Tây Lan và Phi Luật Tân. Giấy thông hành được viết bằng 4 ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đại Hàn và tiếng Thái. Phần dưới có nội dung như sau:
“MANG TẤM GIẤY THÔNG HÀNH nầy về cộng tác với Chánh
Phủ Quốc Gia các bạn sẽ được:
- Đón tiếp tử tế
- Bảo đảm an ninh
- Đãi ngộ tương xứng
(Ký tên)
Nguyễn Văn Thiệu
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Song song với việc phổ biến Giấy Thông Hành là các chương trình Phát thanh Chiêu hồi được mở đầu bằng bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác được dùng làm
nhạc hiệu (nghe Ngày Về qua giọng
ca của Anh Ngọc trên http://www.youtube.com/watch?v=rNKpu3IEW2c):
"Tung
cánh chim tìm về tổ ấm
nơi
sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ
phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến
tiếc bao ngày xanh…”
Điều khá lý thú là Hoàng Giác (sinh năm 1924) vốn
là nhạc sĩ theo kháng chiến chống Pháp và đã từng là đội viên tuyên
truyền trong chiến khu Việt Bắc. Năm 1947, Hoàng Giác viết Ngày về, theo ông, đó là ca khúc ưng ý
nhất. Năm 1948 Hoàng Giác “dinh tê” trở về Hà Nội, hoạt động nghệ thuật
như một nhạc sĩ và cũng là một ca sĩ được dân Hà Thành hâm mộ.
Cũng giống như một số nhạc sĩ cùng thời, Hoàng Giác sáng
tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc, trong số đó có những bài hát nổi tiếng,
vượt thời gian như Mơ hoa, Ngày về, Hương lúa đồng quê. Ông hiện sống ở Hà Nội và có người con trai
là nhà thơ khá nổi tiếng Hoàng Nhuận Cầm.
Báo Công an Nhân dân
trong bài viết “Nhạc sĩ Hoàng Giác: Mãi
giấc mơ hoa” có đoạn đề cập đến bản nhạc Ngày về: “Sau khi được một
số ca sĩ hát ở ngoài Bắc, vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, rất ngẫu
nhiên, giai điệu của "Ngày về" được chính phủ Việt Nam Cộng hòa chọn
làm nhạc hiệu cho chương trình Chiêu hồi. Vì tình huống nhạy cảm này mà mãi đến
sau 1975, bài "Ngày về" mới được hát trở lại ở ngoài Bắc với nhiều
giọng ca nổi tiếng như tài tử Ngọc Bảo, Cao Minh, Lê Dung, Ngọc Tân…”
Nhạc sĩ Hoàng Giác
Những cán binh trở về với Chính phủ VNCH được gọi là người hồi chánh hay hồi chánh viên. Trong số những người hồi chánh có ca sĩ Bùi Thiện và Đoàn Chính (con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn), nhà văn Xuân Vũ (tác giả hồi ký Đường Đi Không Đến và Vượt Trường Sơn, đã qua đời tại Texas năm 2002), Trung Tá Lê Xuân Chuyên (bị chính quyền mới xử tử hình vào ngày 30/4/1975), Trung tá Tám Hà, Trung tá Phan Văn Xưởng, Trung tá Huỳnh Cự…
Hồi chánh viên (từ trái qua phải): Trung Tá Phạm Viết Dũng,
Trung đoàn phó Phạm Văn Xướng, Trung Tá Tám Hà
Chiêu hồi, ngoài ý nghĩa chính trị còn được dùng như động từ để chiêu dụ ai đó, chẳng hạn như trong câu: “Hắn đã ‘chiêu hồi’ được một tay chọc trời khuấy nước về làm việc dưới trướng”. Gần đây, trên http://nguoivietblog.com/hagiang/?p=497, tác giả Tam Thanh có một bài viết với tiêu đề “Chiêu hồi” ngôn ngữ, bàn về cách dùng khác nhau và ý nghĩa đúng-sai của những từ ngữ xuất xứ từ miền Nam và miền Bắc.
Trần Trung Đạo trong bài “Mặc cảm chiêu hồi và khát vọng tự do” viết: “Tôi có
mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế độ, là một hình
thức chiêu hồi. Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm
miền Bắc, dù có nhiều cơ hội…” (http://www.trantrungdao.com/?p=262).
Thuật ngữ “chém vè”
cũng là một từ ngữ chính trị được sử dụng tại miền Nam. Chém vè, nguyên thủy có ý nghĩa ẩn mình dưới nước hoặc những nơi lùm bụi
rậm rạp gần bờ nước để trốn tránh. Theo một số người, “chém vè” xuất phát từ con ba ba (cua
đinh) với hai càng rất khỏe còn gọi là vè. Hễ nghe tiếng động, hai vè
của nó chém mạnh rồi chui vào bùn để trốn.
Đối với chính quyền VNCH, thuật ngữ “chém vè” chỉ tình trạng các cán
binh “giã từ vũ khí” để ra “hồi
chánh”. Xem ra, cũng chỉ một từ ngữ nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác
nhau tùy theo chính kiến. Đó cũng là điều dễ hiểu ở một đất nước
đang trong tình trạng chiến tranh về ý thức hệ.
Chuyện cười của Bác Ba Phi trong Rùa U Minh viết: “Hai bác
cháu tui chạy một mạch qua tới Lung Bùn, chém vè cho tới chiều. Về chưa tới nhà
thì thằng Ba Lùn chặn lại rủ vô nhà nhậu thịt rùa rang muối. Nó bảo là hồi trưa
nó đốt giang sậy ven Lung Tràm, bắt được vài chục con rùa. Nghe nói mà tui tiếc
hùi hụi. Hồi trưa thấy bầy rùa bò đó mà tưởng đâu xe lội nước [thiết vận
xa M113, chú thích của NNC], bỏ chạy
trốn. Thiệt tức!”. Chém vè ở
đây chỉ thuần túy là ẩn núp.
Theo hồi ký Chém vè
giữa làng báo Sài Gòn của nhà văn Nguyên Hùng [2], thuật ngữ “chém vè” trong bài viết này chỉ
việc những cán bộ Cộng sản, sau hiệp định Genève 1954, được đưa về Sài Gòn
để “trường kỳ mai phục”, “hoạt động trong lòng địch” hay còn gọi là “nằm vùng”.
“Nằm vùng” quả
là một từ vừa gợi hình lại gợi ý. Đối với chính quyền VNCH, nằm vùng là một từ có ý miệt
thị chỉ những người sinh sống tại miền Nam hoạt động bí mật cho
Cộng sản, tương tự như cụm từ người ta thường nói: “Ăn cơm Quốc gia, thờ ma Cộng sản”.
Mãi đến sau năm 1975, những nhân vật nằm
vùng mới dần dần lộ diện.
Theo cuốn Decent
Interval của Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn của CIA, có đến hàng
chục ngàn cán bộ Cộng sản “nằm
vùng” tại miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Họ có thể là một
người lái taxi, đạp cyclo… hằng ngày vẫn theo đuổi công việc của mình
nhưng sau 30/4/1975 họ lại là những cán bộ trong Ủy ban Quân quản giữ nhiệm vụ điều hành một thành phố
Sài Gòn còn đang trong thời kỳ hỗn mang.
Ở một mức độ cao hơn, cán bộ “nằm vùng” nằm ngay trong guồng máy chính phủ Sài Gòn, nổi
bật nhất là nhân vật tình báo bí ẩn Phạm Ngọc Thảo [3]. Điều bất
ngờ là Thảo mang cấp bậc Đại tá của Quân lực VNCH tại miền Nam trong
khi chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn không biết ông còn là
Đại tá trong Quân đội Nhân dân ở miền Bắc.
Biết Phạm Ngọc Thảo từng là chỉ huy du kích Việt Minh, đầu
năm 1961 Ngô Đình Nhu đã quyết định cử ông làm tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức
Bến Tre) để trắc nghiệm Chương trình Bình
định. Từ khi Phạm Ngọc Thảo nhậm chức, tình hình an ninh tại vùng này
trở nên rất yên ổn, không còn bị phục kích hay phá hoại nữa. Tuy nhiên, do có
nhiều tố cáo nghi ngờ ông là “cán bộ cộng
sản nằm vùng”, ông thôi giữ chức Tỉnh trưởng và được cử sang Hoa Kỳ
học một khóa về chỉ huy và tham mưu.
Tháng 9/1963 Bác sĩ Trần Kim Tuyến (nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị, thực chất là cơ
quan mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu
gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an...
sẵn sàng tham gia. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1/11/1963,
Phạm Ngọc Thảo được lên chức đại tá, làm tùy viên báo chí trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng.
Sau đó, Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật cho
phía bên kia chiến tuyến vì ngày càng nhiều nghi vấn ông là Việt Cộng mằm vùng. Phạm Ngọc
Thảo bị chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kết án tử hình và
treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được. Cuối cùng, Phạm Ngọc Thảo bị Cục
an ninh quân đội (Số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm) bắt giữ và bị thủ tiêu ngày
17/7/1965 khi mới 43 tuổi.
Những năm hoạt động “nằm
vùng” của Phạm Ngọc Thảo cho chính quyền miền Bắc được ngụy
trang rất kỹ và rất ít người ở miền Nam biết ông là một nhà tình báo.
Ngay cả sau 30/4/1975, nấm mộ ông vẫn chỉ là nấm mồ vô danh vì ông hoạt
động “đơn tuyến”. Mãi sau này, một số đồng đội đã sưu tầm tài liệu
về ông và đề nghị Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân... Năm 1987, nhà cầm quyền
truy tặng ông danh hiệu liệt sỹ với
quân hàm đại tá và mộ của ông được đưa về nghĩa trang thành phố, trên đồi
Lạc Cảnh (huyện Thủ Đức).
Phạm Ngọc Thảo được coi là một trong 4 tình báo viên xuất
sắc nhất của Chính phủ miền Bắc (3 người kia là Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ
và Lê Hữu Thúy). Đối với Chính phủ miền Nam, cả 4 người này đều là “Việt Cộng Nằm Vùng”, không hơn không
kém!
Tiểu thuyết Ván Bài
Lật Ngửa của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) được mở
đầu bằng câu: “Tưởng nhớ anh Chín T. và
những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng”. Nhân vật chính trong
truyện, Nguyễn Thành Luân, chính là hình ảnh của Phạm Ngọc Thảo, bí
danh Chín T. hay Chín Thảo.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo dưới sắc áo Quốc gia
Nhân vật “nằm vùng” thứ hai là Phạm Xuân Ẩn [4] là một thiếu tướng tình báo của Hà Nội với biệt danh Trần Văn Trung hay Hai Trung. Trong suốt thời gian chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn sống tại Sài Gòn dưới vỏ bọc “ký giả” làm việc tại Việt tấn xã, cộng tác với hãng thông tấn Reuters và có nhiều bài viết trên tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor...
Theo một tài liệu được công bố, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về
Hà Nội 498 báo cáo bao gồm tài liệu nguyên gốc đã được sao chụp, các thông
tin thu lượm cùng phân tích và nhận định của Ẩn về VNCH và Hoa Kỳ. Là
người đã từng được đào tạo về ngành báo chí tại Mỹ, Phạm Xuân Ẩn
là nhân vật được chèo kéo bởi nhiều cơ quan tình báo miền Nam cũng như miền
Bắc, trong nước cũng như ngoài nước, kể cả CIA.
Ngày Sài Gòn đổi chủ, vợ con Phạm Xuân Ẩn đã rời
Việt Nam theo chiến dịch di tản của người Mỹ và theo kế hoạch của miền
Bắc, ông sẽ được gửi sang Mỹ để tiếp tục hoạt động tình báo. Tuy nhiên, theo
một số tài liệu, Phạm Xuân Ẩn đã đề nghị cấp trên cho ngưng công tác vì
lý do đã “hoàn thành nhiệm vụ”. Kế hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một
năm để quay lại Việt Nam
theo đường vòng: Paris - Moscow
- Hà Nội - Sài Gòn.
Như cái tên “định mệnh” mà ông mang, cuộc đời của
Phạm Xuân Ẩn lúc “ẩn”, lúc “hiện” và cũng có lúc “lên voi”, lúc “xuống chó”. Năm 1997, chính phủ Việt Nam từ chối không cho phép
Phạm Xuân Ẩn đến Hoa Kỳ để dự một hội nghị ở New York mà ông được mời với tư
cách khách mời đặc biệt. Trong những
năm cuối đời, có vẻ như Phạm Xuân Ẩn cảm thấy thất vọng với những gì ông
chứng kiến tại Việt Nam
sau cuộc chiến. Ông tiết lộ với Thomas A. Bass, tác giả cuốn The Spy Who Loved Us: “Dân chúng tại đây [tức Việt Nam] không được viết tự do. Đó là vì sao tôi
không viết hồi ký”.
Năm 1978, Phạm Xuân Ẩn phải ra Hà Nội học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp trong 10 tháng. Sự kiện
này được xem như một hình thức “cải tạo” và ông giải thích vì lý do
đã “sống quá lâu trong lòng địch”. Có người cho rằng ông bị nghi kị và bị
quản chế tại gia, không được xuất ngoại, bị cấm tiếp xúc với bên ngoài, đặc
biệt với giới báo chí ngoại quốc do cách suy nghĩ, cư xử… “rất Mỹ”.
Ông đã từng giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến rời khỏi Việt Nam
vào ngày 30/4/1975 (Bác sĩ Tuyến là “xếp” cũ của Phạm Xuân Ẩn năm
1959. Cơ quan mật vụ của BS Tuyến biệt phái ông sang làm việc tại Việt tấn xã, phụ trách bộ phận
các phóng viên ngoại quốc làm việc trong cơ quan này).
Phạm Xuân Ẩn và các con
Vũ Ngọc Nhạ [5], Thiếu tướng tình báo của Hà Nội cũng là một trường hợp “nằm vùng” ngay trong đầu não của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam, kéo dài từ năm 1954 đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Miền Bắc ca tụng ông là “điệp viên siêu hạng” với những “điệp vụ bất khả thi” trong “vụ án chính trị lớn nhất thời đại”.
Với vỏ bọc của một “con chiên ngoan đạo” đã từng
sát cánh với Giám mục Lê Hữu Từ
và Linh mục Hoàng Quỳnh,
Phạm Ngọc Thảo trở thành một
người tâm phúc, thường xuyên bàn bạc những vấn đề cơ mật với Tổng
thống Ngô Đình Diệm. Thời Đệ nhất Cộng hòa có “bốn con rồng”: Bạch Long (Ngô Đình Diệm), Hồng Long (Ngô Đình Thục), Thanh Long (Ngô Đình Nhu) và Hắc Long (Ngô Đình Cẩn). Cố vấn Ngô
Đình Nhu đã gọi Vũ Ngọc Nhạ là Hoàng
Long để trở thành con rồng thứ năm trong Ngũ Long của Đệ nhất
Cộng hòa.
Cuối năm 1965, do sự chạy đua quyền lực quyết liệt trong
nhóm các tướng trẻ, tướng Nguyễn Văn Thiệu đã sử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò
liên lạc viên với Công giáo, qua sự giới thiệu của Linh mục Hoàng Quỳnh, nhằm
tìm chỗ dựa chính trị. Là một điệp viên, Vũ Ngọc Nhạ đã khéo léo sử dụng vai
trò này để tạo dựng các mối quan hệ và gây ảnh hưởng đến giới chính trị cả
trong dân sự lẫn quân sự.
Một lần nữa, Vũ Ngọc Nhạ trở thành “Ông Cố Vấn” sau
khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống năm 1967. Đây cũng là thời điểm
mạng lưới tình báo A.22 (vốn là mật danh riêng của Nhạ) được hình thành
và phát triển. Thành công ngoạn
mục nhất của cụm tình báo A22 là thu hút được Huỳnh Văn Trọng, một phụ tá của Tổng
thống Thiệu.
Tháng 8/1968, tướng Thiệu đã cử Huỳnh Văn Trọng cầm đầu một phái đoàn
của Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ tiếp xúc, gặp gỡ với hàng loạt tổ chức, cá
nhân trong chính phủ và chính giới Hoa Kỳ để thăm dò thái độ của Chính phủ
Johnson đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Chính những thông tin này đã góp một
phần cho Hà Nội trước khi
ngồi vào bàn đàm phán tại Paris với Mỹ.
Vũ Ngọc Nhạ và “vụ án chính trị lớn nhất thời đại”
Ở trường Sinh ngữ Quân đội, một đơn vị tương đối nhỏ trong quân lực VNCH, cũng đã có vài trường hợp “nằm vùng”. Nổi bật nhất có Đại úy TVQ và Thiếu úy NCD. Đại úy Q. là người từ đơn vị chuyển về trường SNQĐ khi nhu cầu huấn luyện Anh văn cho quân đội tăng cao do chương trình Việt Nam hóa chiến tranh nhằm đào tạo quân nhân các binh chủng Hải-Lục-Không quân VNCH đi học chuyên môn tại Hoa Kỳ để về nước đảm nhận công việc của quân đội Mỹ.
Sự gia tăng bất ngờ về số khóa sinh tại trường SNQĐ
khiến nhà trường phải tuyển thêm quân nhân có khả năng tiếng Anh từ
các đơn vị về để đào tạo thành giảng viên Anh ngữ. Đại úy Q. thuộc
thành phần bổ xung đó. Q. về trường khi đã đeo lon Đại úy từ một đơn
vị chiến tranh chính trị. Anh là một sĩ quan hiền lành, ít nói nhưng
sau ngày 30/4/75 bạn bè cũ mới “bật ngửa” khi biết anh thuộc hàng
ngũ… bên kia chiến tuyến.
Sau thời gian cải tạo tôi trở về Sài Gòn gặp lại Q.
khi đó là nhân viên hành chánh của trường Đại học Kinh tế. Tôi tiếp
xúc với anh một cách dè dặt trong một vài buổi họp mặt các anh em
giảng viên cũ. Sau đó Q. biến mất khỏi các cuộc gặp gỡ, có lẽ vì
không chịu nổi những xầm xì, bàn tán về vai trò “nằm vùng” của mình.
Trường hợp “nằm
vùng” thứ hai ở trường SNQĐ là Thiếu úy NCD, một người được
tuyển thẳng từ Thủ Đức về trường. Cũng như Đại úy Q., Thiếu úy D.
là người ít nói và hầu như rất ít giảng viên trong trường để ý đến
người thanh niên “trầm lặng” này. Sau này, có một số anh em giảng viên
nói chính Thiếu úy NCD đã “tiếp quản” trường SNQĐ những ngày đầu
tháng 5/75.
Hành tung của viên thiếu úy “nằm vùng” được sáng tỏ: người anh của NCD là một cán bộ
cao cấp. Được coi là một trí thức Marx-Lenin, Viện sĩ NCT (Sáu Quang),
anh ruột NCD, là nguyên Bí thư Thành Đoàn giai đoạn 1977 - 1981, Trưởng Ban
quản lý Khu Chế Xuất – Khu Công Nghiệp đầu tiên của thành phố, nguyên Chủ
nhiệm Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài và hiện là Viện phó Viện khoa học
công nghệ Phương Nam (thuộc Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam). Có người
anh như vậy nên thiếu úy NCD không “nằm
vùng” mới là chuyện lạ!
Với những câu chuyện “nằm
vùng” điển hình ở mọi cấp chính quyền miền Nam kể trên, quân đội
miền Bắc ngày càng tiến dần đến thủ đô và người Sài Gòn ngỡ ngàng
trước biến cố 30/4/1975. “Tiên trách
kỷ, hậu trách nhân” có lẽ là một trong những triết lý thâm thúy
nhất được rút ra trong cuộc chiến vừa qua.
===
Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng (2)
http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/ngon-ngu-sai-gon-xua-linh-trang-2.html
(Tiếp theo)
Trong lãnh vực văn chương, Sài Gòn xưa không thiếu
những ấn phẩm viết về lính. Một trong những tác phẩm nổi bật là Đời Phi Công của nhà văn Toàn Phong,
bút hiệu của Đại tá Không quân Nguyễn Xuân Vinh. Đời Phi
Công xuất bản lần đầu năm 1960 và được Giải
thưởng Văn chương Toàn quốc cùng năm. Trong một phỏng vấn ở hải ngoại sau
này, tác giả Toàn Phong cho biết ông bắt đầu viết Đời Phi Công vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ vào ngày thứ Hai
trên nhật báo Tự Do.
Đời Phi Công là
một cuốn truyện dưới dạng những bức thư của một phi công viết cho người yêu
là sinh viên tên Phượng để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày
“lướt gió tung mây”, đêm thì dõi
theo “ánh tinh cầu”. Những bức thư
ghi lại kỷ niệm vui buồn trong những phi vụ, kể lại một cuộc sống vừa lãng mạn
vừa sôi nổi của một phi công thời
chiến.
Đời Phi Công ra
đời làm nức lòng các thanh niên thiếu nữ. Thanh niên thì nuôi giấc mộng hải
hồ, thiếu nữ thì mơ có người yêu là một chàng phi công hào hoa “đi mây về gió”. Tác phẩm này đã là
đề tài của nhiều buổi thuyết trình và có những đoạn được trích dẫn trong
chương trình “kim văn” trung học đệ
nhất cấp.
Trong một bức thư gửi cho Phượng khi bước chân sang
Pháp học lái máy bay, Toàn Phong viết: “Em cũng như tất cả những người thân-tình, cũng như tất cả những người
dân Việt, chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân-lực.
Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian-nan muôn trùng anh
cũng sẽ mỉm cười dấn bước”.
Ngôn ngữ trong Đời
phi công là một thứ ngôn ngữ gợi
hình. Tác giả gọi những bức thư là “giòng lá thắm”, ánh mắt của cô Phượng “trông như ánh pha-lê”, hành trình của người con trai thời
chiến như “một chiếc lá vàng đã
trót được thả trên giòng đời” còn phi công được thi vị hóa như
những “tráng-sĩ” hay “hiệp-sĩ không-trung”…
Nếu để ý, ta sẽ thấy những từ Hán-Việt đều được
Toàn Phong viết có gạch nối. Đó là phong cách viết cầu kỳ của
người Sài Gòn xưa. Tham khảo thêm về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tại http://nguyenngocchinh.multiply.com/journal/item/27 (Đà Lạt sương mù: Hồi ức về một người thân).
Phi công VNCH sau phi vụ “Bắc Phạt” năm 1965
Nhà văn quân đội thứ hai mà tôi muốn đề cập đến là
Thế Uyên. Tôi biết Thế Uyên khi còn học tại Ban Mê Thuột. Khi đó ông
lưu lạc đến cao nguyên đất đỏ trong vai trò một giáo sư dạy môn Công dân Giáo dục và Triết trước khi bị động viên vào khoá
14 Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, cùng một lượt với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.
Thầy trò chỉ hơn nhau có 11 tuổi nhưng, đối với tôi,
thầy Dũng mang dáng dấp của một người từng trải với điếu thuốc lúc
nào cũng gắn trên môi. Thế Uyên, bút hiệu của Nguyễn Kim Dũng, sinh
năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông
là em ruột nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam.
Sau 1975, cũng như hàng trăm ngàn sĩ quan của miền Nam, ông
bị đi tù cải tạo một thời gian, trước khi đến định cư tại Mỹ. Cách đây vài năm
ông bị “stroke” tê bại một nửa
người, phải ngồi trên xe lăn để di chuyển trong nhà. Tuy nhiên, bằng một nghị
lực phi thường, ông đã tập viết lại bằng tay trái, và đã viết bài cho các tạp
chí văn học hải ngoại.
Đoạn đường chiến binh – Thế Uyên
Thế Uyên là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng xoay quanh
người lính trong chiến tranh Việt Nam như Mười ngày phép của một người lính, Tiền đồn, Đoạn đường chiến binh... Trong một cuộc phỏng vấn
Thế Uyên cho biết:
“Nếu nghề dạy học đã
làm tôi hút thuốc lá từ lúc trẻ cho tới khi bị stroke, thì nghề làm lính làm
tôi thích bia rượu và thay đổi hẳn quan niệm và cách viết văn. Tôi từ bỏ (hay
bị từ bỏ, vì hoàn cảnh sống có tác động mạnh đến bút pháp) lối viết và đề tài
cũ, giã từ những mối tình trai gái lãng mạn trong thành phố an bình, chuyển
sang chiến tranh và các hệ luỵ của nó. Với tôi, quân đội và chiến tranh, như
một vết cắt, thành trước và sau, before and after, trước sex vẫn hiện diện, nhẹ
nhàng thôi, bây giờ sex nặng nề, tràn đầy… Như trong Tiền Đồn, Mười Ngày Phép
Của Một Người Lính, Nỗi Chết Không Rời...
Thủ bút và chân dung Thế Uyên (tranh của Tạ Tỵ)
Trong tác phẩm Tiền
đồn, Chị Ba, người nông dân tượng trưng cho người dân Việt Nam -ở cả
miền Nam lẫn miền Bắc - đã phải, được và bị làm tình với cả ba phe lâm chiến hồi đó: lính miền Bắc, lính
miền Nam và lính Mỹ. Đó là một đề tài sex rất mới lạ trong mảng
chiến tranh mà Thế Uyên đã đưa vào tiểu thuyết. Có người bảo giữa
tình dục và chiến tranh hoàn toàn không có gì liên quan đến nhau nhưng
Thế Uyên lại nghĩ khác:
“…Nhà văn Võ Phiến
(một người không đi lính và không ở tiền tuyến với súng đạn chông mìn) không
đồng ý với phân tích đó, cho rằng chiến tranh vẫn có đó, cho nhiều người, nhưng
không liên quan gì đến tăng hay giảm sex trong văn chương... Tôi tôn trọng ý
kiến nhưng không đồng ý với bậc đại trưởng lão này. Để tránh tranh cãi, tôi xin
nói lại thế này: Riêng đối với cá nhân tôi, đang khi và sau khi rời mặt trận,
tôi cảm thấy phải sử dụng tới sex, tới làm tình, nghĩa là sự sống, tạo sự sống,
mới diễn tả được chiến tranh, sự chết, huỷ diệt. Tôi cảm thấy thế thì phải
viết như thế, thật tự nhiên, không gò ép…
Ở Tiền đồn còn
có những chi tiết nhỏ nhoi mà những tác giả chưa từng sống trong tâm
trạng của người lính trực tiếp cầm súng không thể nào có được: “Mới chỉ thiếu đi một khoảnh khắc ánh trăng
... mình mệt rồi, chàng thì thào, phải kiếm đôi giày khác, đưa đôi này đi làm
fermeture. Một thằng bạn nào đã nói: Phải đi giày có fermeture mới đỡ căng
thẳng thần kinh... Hắn có lý đấy, chàng sợ nhất ban đêm bị đánh bất ngờ, xỏ
giày không kịp, cứ chân không tác chiến và chạy băng bờ bụi…”
Trong giai đoạn “chiến
tranh du kích”, người Sài Gòn dùng cụm từ “đắp mô” để chỉ những hoạt động của du kích MTGPMN tối tối
thường ra các trục lộ giao thông phá hoại đường xá. Trong Tiền Đồn, chuyện “đắp mô” của “những người anh em phía bên kia” lại được Thế Uyên diễn tả
bằng “ngôn ngữ của lính”:
“Hai tiếng nổ lớn kế
tiếp vang dội. Những viên đất nhỏ rơi lả tả trên đầu, quần áo. Vũ quay đầu lại
la lớn về phía toán đang dùng TNT phá ụ: "Còn mấy cái mả Hồ Chí Minh nữa
mới xong?". Một tiếng la trả lời: "Ba mả nữa!".
Người lính tiền đồn và gia đình
Dĩ nhiên trong lãnh vực báo chí Sài Gòn xưa tràn
ngập những tin tức liên quan đến lính, từ các mục Tin Chiến Sự, Tin Chiến
Trường đến các mục Hậu phương
& Tiền Tuyến, Ủy lạo binh sĩ,
v.v… Riêng quân đội cũng có cơ quan báo chí trực thuộc Phòng 5 Bộ tổng tham mưu với tờ Phụng Sự, ấn phẩm ra hàng tháng
trong suốt thời gian từ 1953 đến 1960. Phụng
Sự là tạp chí nghị luận, biên khảo và văn nghệ với sự góp mặt
của Toàn Phong (tác giả Đời Phi Công
đã đề cập đến ở phần trên), Hoàng Ngọc Liên, Hà Liên Tử, Nguyễn
Mạnh Côn, Uyên Thao, Phan Lạc Tuyên…
Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa
(1959-1974) là cơ quan hợp nhất hai tờ Phụng
Sự và Quân Đội và tạp chí Chỉ Đạo xuất hiện từ tháng 10/1956
thuộc Ủy ban Chỉ đạo chiến dịch Tố Cộng.
Ngoài những nhà văn vừa kể, những tờ báo lính còn xuất hiện bài
vở của các cây bút tiếng tăm trong và ngoài quân đội như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Thiệu Lâu, Toan Ánh,
Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên
Lộc, Trần Phong Giao, Dương Kiền, Duyên Anh, Hà Huyền Chi…
Nguyệt san Quân Đội
của Nha Chiến tranh Tâm lý xuất
hiện từ đầu năm 1957 đến 1960, do Trung-úy Tô Kiều Ngân làm chủ bút (hẳn bạn đọc còn nhớ tiếng
sáo của Tô Kiều Ngân trong chương trình Tao
Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn). Tiếp đến là những tờ Tiền Phong, Lý Tưởng, Mũ Đỏ, Lướt Sóng, Tinh Thần, Khởi Hành, và
các nhật báo Tiếng Dân, Dân Việt, Tiền Tuyến…
Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xác định trong một bài diễn
văn tại trường Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1960: “Cuộc chiến tranh ta phải đương đầu không phải là một thứ chiến tranh
quân cụ, một thứ chiến tranh bấm nút, hay một thứ chiến tranh chỉ liên hệ đến
một số quân nhân mà thôi đâu. Thứ chiến tranh mà ta phải đối địch là thứ chiến
tranh cách mạng, một thứ chiến tranh lý tưởng liên hệ trực tiếp đến toàn dân,
và trong đó yếu tố tinh thần, yếu tố tin tưởng vào chế độ của mình là yếu tố
quyết định”.
Ngày Quân-lực VNCH
được chính thức chọn vào ngày 19/6/1965 trong thời Ðệ nhị Cộng hòa (dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, và
Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương,
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ) sau khi nền Đệ
nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Từ năm
1965 cho đến 1974 đều có các cuộc diễn binh trọng thể để kỷ niệm Ngày Quân Lực tại Sài Gòn. (Một
sự tình cờ ngẫu nhiên 19/6 lại trùng với ngày sinh của tác giả bài
viết này (19/6/1946)!
Diễn binh mừng Ngày Quân Lực 19/6
Khẩu hiệu chính của quân đội VNCH là “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ quốc”,
mỗi binh chủng lại còn có khẩu hiệu riêng, chẳng hạn như Không quân
là “Tổ quốc, Không gian”, “Bảo quốc, Trấn không” hoặc Cảnh
sát thì có “Cảnh sát Quốc gia,
Phục vụ Đồng bào”… Các đơn vị quân đội VNCH ngoài tên gọi còn có
những “biệt danh” nghe rất kêu
nhưng cũng rất ngổ ngáo. Thủy quân
lục chiến có Quái Điểu
(tiểu đoàn 1), Trâu Điên (tiểu
đoàn 2), Sói Biển (tiểu đoàn 3),
Kình Ngư (tiểu đoàn 4), Hắc Long (tiểu đoàn 5), Thần Ưng (tiểu đoàn 6), Hùm Xám (tiểu đoàn 7), Ó Biển (tiểu đoàn 8), Mãnh Hổ (tiểu đoàn 9). Biệt động quân có biệt hiệu “Cọp ba đầu rằn”, Không quân có các
phi đoàn Thần Phong, Thần Tượng, Song Chùy, Phi Hổ, Hổ Cáp, Thiên Lôi, Hỏa Long, Phượng
Hoàng…
Quân lực VNCH có một số cơ sở đào tạo và huấn luyện.
Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt,
đào tạo những thanh niên tình nguyện trở thành sĩ quan hiện dịch ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Khi mới
thành lập năm 1948, thời gian huấn luyện tại trường chỉ kéo dài 9 tháng.
Năm 1957 tăng lên thành 12 tháng rồi đến năm 1961 là 2 năm.
Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm, từ năm 1966 trở đi
lại tăng lên 4 năm. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh
viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất
bằng tú tài toàn phần (gồn Phần I,
lớp Đệ nhị và Phần II, lớp Đệ nhất). Đến năm 1966, sinh viên tốt
nghiệp Trường Võ Bị có văn bằng
tương đương với bằng cử nhân khoa học. Hai năm đầu sinh viên mang cấp bậc
trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với
cấp thiếu úy.
Khóa học bao gồm những môn vũ khí, truyền tin, tác chiến,
kết hợp lý thuyết với thực hành. Theo truyền thống, để được gắn Alpha,
khóa sinh sau những tuần huấn nhục
phải leo lên ngọn Lang Biang để nhận phù hiệu trên đỉnh ngọn núi cao
nhất Đà Lạt.
Trường Võ bị Quốc
gia lấy Học viện West Point của
Hoa Kỳ làm mẫu mực. Hai năm đầu chương trình học cho các sinh viên đều giống
nhau. Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi thì tách ra ba quân chủng riêng biệt, trong
đó 1/8 thuộc Không quân, 1/8 thuộc Hải quân và 3/4 thuộc Lục quân.
Trường Võ bị Quốc gia
Năm 1965, quân lực VNCH tiếp nhận khái niệm và cơ cấu Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) khi đó
được áp dụng trong Quân đội Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Tổng cục CTCT
được tổ chức thành 5 cục bao gồm Cục
chính huấn, Cục tâm lý chiến,
Cục xã hội, Cục an ninh quân đội, Cục
quân tiếp vụ và một trường Ðại học
Chiến Tranh Chính Trị cũng đặt tại Đà Lạt. Tại đây, sinh viên phải
qua một chương trình huấn luyện 2 năm để trở thành Thiếu úy hiện dịch. Chương
trình học nhấn mạnh về khoa học xã hội và chính trị. Sinh viên phải học quân
sự hàng năm tại Trường Võ bị Quốc gia để
có thể chỉ huy một trung đội bộ binh với đầy đủ kiến thức về chiến thuật,
chiến lược. Bên cạnh đó là việc học những kiến thức chuyên môn tại
trường để trở thành sĩ quan chiến tranh chính trị.
Sinh viên Sĩ quan Đại học Chiến tranh Chính trị
Trường Bộ binh Thủ Đức
là nơi tập họp các thanh niên có bằng Tú tài Phần I trở lên (lớp
Đệ nhị) bị động viên vào quân
ngũ để được đào tạo trở thành sĩ
quan trừ bị và ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Trong suốt thời
gian hoạt động 1953-1975, trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó
khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt là
những hạ sĩ quan được đặc cách
đi học lớp sĩ quan. “Thao trường đổ
mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” và “Cư An Tư Nguy” (Muốn sống hòa bình phải nghĩ đến chiến
tranh) là những châm ngôn của Trường.
Trường Bộ binh Thủ Đức
là nơi tôi đã từng trải qua với vô vàn kỷ niệm, vui cũng như buồn
rất khó quên. Bò hỏa lực, đoạn đường chiến binh, leo dây tử thần, hít đất, thụt dầu, phạt dã chiến là những món “ăn chơi” không thể thiếu trong thời
gian “huấn nhục” của người chiến
binh. Vui nhất phải kể đến những lần về phép cuối tuần tại Sài Gòn
nếu không có lệnh “cấm trại 100%”.
Người ta thường gọi sinh viên sĩ quan Thủ Đức chúng
tôi là “lính con cá” vì trên cầu
vai không có lon mà chỉ có chữ Alpha
tựa như hình con cá! Phải đợi đến khi tốt nghiệp ra trường mới được
đeo lon Chuẩn úy (Omega). Trường
Bộ binh Thủ Đức có “khu bưu chính”
(KBC) mang số hiệu 4100, con số 4100 (bốn ngàn một trăm) được sinh viên
chúng tôi đọc trại thành “bốn người
một mâm”… chả là vì mỗi khi lên “nhà
bàn” ăn cơm thì cứ bốn người ngồi chung một carrée!
Sinh viên sĩ quan Thủ Đức
Tại Sài Gòn còn có Trung
tâm Huấn luyện Quang Trung chuyên đào tạo binh sĩ cho các đơn vị
tác chiến khắp “bốn vùng chiến
thuật”. Tôi cũng đã từng nếm mùi quân trường Quang Trung trước khi
được chuyển sang Thủ Đức ở giai đoạn 2. Quang Trung có món “chà láng”: những lúc rảnh rỗi tất
cả phải ra giao thông hào, dùng càmen bằng inox để chà đất cho thật
láng! Một việc làm “vô bổ” nhưng
lại có tác dụng khiến cho những thanh niên mới khoác áo lính phải
bận rộn, không còn thì giờ rảnh rỗi để nhớ nhà, nhớ cuộc đời dân
sự.
Trường Huấn luyện
Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường
Hạ sĩ quan (tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ, thường được gọi là Trường Đồng Đế) tất cả đều ở Nha
Trang, “miền quê hương cát trắng”.
Trường Thiếu sinh quân đặt tại
Vũng Tàu, ưu tiên cho các con em tử sĩ. Còn một số trung tâm huấn
luyện chuyên môn cho các quân binh chủng như Pháo binh, Công binh, Quân
cụ, Quân khuyển, Quân y, Truyền tin… đặt tại các địa phương trên cả
nước.
Sẽ là điều bất công nếu không nói về Đoàn Nữ Quân Nhân, “những bông hồng trong bộ đồ lính”
hay nói một cách thi vị hơn: “Hoa lạc
giữa rừng gươm”. Trưởng Đoàn Nữ
Quân Nhân đầu tiên là nữ Đại tá Trần Cẩm Hương, ái nữ của kỹ sư Trần Văn
Mẹo – Tổng trưởng Công chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Nữ quân nhân hiện diện tại các đơn vị quân đội với quân phục tác chiến ở tiền phương
hoặc với đồng phục màu xanh tại
các đơn vị tham mưu. Họ có mặt trong mọi binh chủng và ngành chuyên
môn trong quân lực và vào thời điểm “leo
thang chiến tranh”, quân số của Đoàn
Nữ Quân Nhân lên tới xấp xỉ 10.000 người.
Trường Nữ Quân Nhân
nằm trên đường Nguyễn Văn Thoại (ngày nay là Lý Thường Kiệt), giữa Trường
đua Phú Thọ và Chợ Tân Bình. Trường được thành lập từ giữa thập niên
1960 và đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hồ Thị Vẽ từ ngày đầu
tiên cho đến ngày cuối cùng, 30/4/1975.
Một nữ quân nhân xuất thân từ Trường Nữ Quân Nhân chưa có đủ chuyên môn để phục vụ các đơn vị,
nên thường phải trải qua một thời gian huấn luyện nữa, như ngành quân y, học
tiếp ở Trường Quân Y để trở thành một
y tá lành nghề. Tùy theo trình độ văn hóa, người nữ quân nhân có thể
phục vụ trong quân đội như “lính trơn”,
hạ sĩ quan hay sĩ quan.
Ngoài ra còn có Trường
Xã Hội Quân Đội thuộc Tổng cục Chiến
tranh Chính trị, tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô nằm trên
đường Lê Văn Duyệt (ngày nay là Cách mạng tháng 8). Trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo và huấn
luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại các trung tâm, trường học
ở khu gia binh thuộc quyền điều hành của quân đội. Trường Sinh ngữ Quân đội nơi tôi giảng dậy cũng có một nhà
trẻ dành cho con em của các giảng viên và do nữ quân nhân phụ trách.
Người có cấp bậc cao nhất trong Đoàn nữ quân nhân là Đại tá Trần Cẩm Hương, xuất thân từ
ngành Nữ trợ tá xã hội. Khi
Đại tá Cẩm Hương giải ngũ về hưu, Trung tá Lưu Thị Huỳnh Mai lên nắm
quyền Chỉ huy trưởng. Ngoài ra
còn có những nữ Trung Tá thâm niên quân vụ và cấp bậc như Nguyễn Thị Hằng,
Hồ Thị Vẽ, Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Cấp bậc Thiếu tá có khoảng trên dưới mười
người trong quân lực VNCH.
Đoàn Nữ Quân Nhân diễu hành trong Ngày Quân Lực
Lực lượng quân đội VNCH có đến 11 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn
nhảy dù, 1 sư đoàn thủy quân lục
chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù,
21 liên đoàn biệt động quân, 4 lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp, Lực lượng
Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và lực lượng Địa phương quân gồm 400 tiểu đoàn, nghĩa quân hơn 50.000 quân.
Lực lượng Không quân có quân số khoảng 60.000 người.
Chỉ huy trực tiếp là Bộ tư lệnh Không
quân với đầy đủ các cơ quan yểm trợ. Binh chủng bao gồm 5 Sư đoàn không quân tác chiến trong đó
có 20 Phi đoàn khu trục cơ (khoảng
550 phi cơ A-1H, A-37 và F-5); 23 Phi
đoàn trực thăng (khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47); 8 Phi đoàn quan sát (khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17); 1 Sư đoàn vận tải (khoảng 150 phi cơ C7, C-47,
C-119 và C-130); 1 Không đoàn tân trang
chế tạo và 4 Phi đoàn Hỏa long
(trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship). Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314. Các phi công đều
được đào tạo chuyên môn tại Hoa Kỳ sau thời gian học quân sự và ngoại
ngữ ở trong nước.
Lực lượng Hải quân có quân số hơn 40.000 người, ngoài
các đơn vị yểm trợ hành chánh, huấn luyện và tiếp vận còn bao gồm các lực
lượng tác chiến: Hành quân lưu động sông
và Hành quân lưu động biển. Lực
lượng Hải quân bao gồm tuần dương hạm
(WHEC - White High Endurance Cuttert), hộ
tống hạm (PCE - Patrol Craft Escort), khu
trục hạm (DER - Destroyer Escort and Ricket), tuần duyên hạm (PGM - Patrol Gunboat Motor), giang pháo hạm (LSIL - Landing Ship Infantry Light), trợ chiến hạm (LSSL - Landing Ship
Support Large), dương vận hạm (LST -
Landing Ship Tank), hải vận hạm (LSM
- Landing Ship Medium) và giang vận hạm
(LCU - Landing Craft Utility).
Hải quân còn có các Lực
lượng đặc nhiệm 211 thủy bộ và Liên
đoàn Người nhái. Tổng cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại,
trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển. Nổi tiếng nhất
trong số đó là Liên đoàn Người nhái
với hai tướng Dã Tượng và Yết Kiêu được tôn vinh là Thánh tổ của đơn
vị. “Người nhái” là những thanh
niên gan dạ, có đầy đủ sức khỏe để thực hiện những “hải vụ” bí mật trên sông và trên
biển.
Những con số vừa nêu rõ ràng là nói lên sức mạnh
hùng hậu của quân lực VNCH. Chỉ tiếc một điều, sức mạnh đó sẽ không
là gì một khi đồng minh “đem con bỏ
chợ” và hậu quả là ngày 30/4/1975.
Dưới đây là huy hiệu của các đơn vị quân lực VNCH do
Đỗ Văn Phúc vẽ lại
Huy hiệu 4 Quân đoàn và các Sư đoàn Bộ binh
Huy hiệu các quân binh chủng
Huy hiệu các lực lượng tổng trừ bị
Huy hiệu các quân trường
***
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

















