Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

CÁC VỤ THANH TRỪNG NỘI BỘ CỦA ĐẢNG CSVN

http://quanlambao.blogspot.fr/2012/08/cac-vu-thanh-trung-noi-bo-am-mau-cua.html

Tại sao người dân miền Nam và Long Khánh này không ở lại để được giải phóng ??? Có lẽ nhìn xã hội VN ngày nay chúng ta sẽ rất dễ thấy rằng cả thế giới tởm lợm chủ nghỉa Cộng Sản của Hồ Chí Minh du nhập về.
-Thực ra CSVN không dễ gì giữ thăng bằng khi đi dây giữa hai đàn anh lớn có khuynh hướng trái ngược, nên có lúc ngả hẳn bên này, lúc ngả hẳn bên kia. -Đối với nhân dân thì đảng CSVN ra tay thực hiện những vụ giết người, cướp của hàng loạt khiến khoảng 3-4 triệu người chết như:  – Rèn Cán Chỉnh Quân năm 1953. – Cải Cách Ruộng Đất năm1953-1956 – Đàn Áp Phong Trào Nhân Văn – Giai Phẩm, năm 1955-1958. – Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954. – Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1975
Đỗ Thông Minh

Stalin đã sát hại 2/3 Ủy Viên Chính Trị Bộ, khoảng 3/4 Ủy Viên Trung Ương thời Lênin và khoảng 20 triệu dân Nga. Mao Trạch Đông cũng đã hãm hại nhân vật thứ 2 như Lâm Bưu, rồi Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ, Bành Chân, Bành Đức Hoài…, chính Đặng Tiểu Bình cũng 3 lần bị hạ bệ và khoảng 60 triệu dân TQ. CSVN cũng không thoát khỏi những hành vi man rợ thuộc loại này.
Do bưng bít, dư luận ít biết đến các cuộc thanh trừng nội bộ, nhưng việc này như một quy luật phổ biến trong chế độ CS để bảo vệ quyền lợi cá nhân và phe nhóm.

Một loạt những cái chết bí ẩn:

- Lâm Đức Thụ (1890-1947), tên thật là Nguyễn Công Viễn, Thư Ký Thường Trực Tổng Bộ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là một trong mấy người sáng lập tổ chức Tâm Tâm Xã (1923), Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), người cùng Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu. Bị HCM vu cho là chỉ điểm, mật thám, tay sai thực dân đế quốc… để rồi kết thúc cuộc đời trước họng súng của dân quân vào năm 1947 tại quê hương Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình mà có lẽ vì bép xép chuyện bán cụ Phan và biết quá nhiều về HCM.

- Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.

- Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, bút hiệu Hạ Sĩ Trường Sơn (Con trai út là Nguyễn Chí Vịnh, năm 2010 là Trung Tướng, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, từng bị tố cáo về tư cách và những thủ đoạn chụp mũ phe đối lập. Vợ là Nguyễn Thị Cúc, có 4 con, nhưng khi hoạt động trong Nam có vợ 2 và thêm con trai là Nguyễn Hữu Nghĩa, Nghĩa được đưa về thành phố sinh sống, khi lớn đi sĩ quan VNCH, tỵ nạn CS qua Canada, làm báo Làng Văn…). (*) Ghi chú thêm xem bên dưới.
Nguyễn Chí Thanh bị chết thình lình sau khi dùng cơm chia tay với HCM ở Phủ Chủ Tịch về nhà, thì đêm hôm đó, gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2 (nhà cầm quyền nói chết vì bệnh tim). Theo Nguyễn Thanh Hà , con thứ 2, gái trưởng của Nguyễn Chí Thanh , viết bài “Kỷ Niệm Về Cha Tôi” đăng trên báo Thanh Niên, Việt Báo tại VN năm 2007, trong có đoạn:
Khi ba từ miền Nam ra, cả nhà được báo trước đứng chờ ba ở cửa – mệ, mẹ, mấy chị em và tất cả mọi người. Chờ mãi không thấy, sau lâu lắm mới thấy ông về, ba bảo: “Ba phải vào thăm và báo cáo tình hình với Bác trước hết, rồi mới về nhà được”. Mấy tháng sau, vào hôm trước khi ông lên đường vào Nam lần thứ 2, cả nhà chờ cơm rất muộn, hỏi ra mới biết, ba được Bác gọi vào ăn cơm chia tay, cơm xong phải đi gặp một vài người bàn nốt công việc. Sau đó không hiểu sao, ông lại quay vào Phủ Chủ Tịch, ngồi dưới nhà sàn, lưu luyến mãi không muốn về. Ông nói với chú Vũ Kỳ: “Tôi đi lần này chắc sẽ hoàn thành việc Bác giao, chỉ băn khoăn một điều là sức khỏe của Bác…”. Không ngờ sáng sớm hôm sau ba mất, không thực hiện được ước mơ của mình là đưa Bác vào Nam thăm đồng bào chiến sĩ…
Theo cuốn “Giọt Nước Trong Biển Cả”, trang 420, của Hoàng Văn Hoan , thì kẻ nắm rõ âm mưu sám sát này là Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh , sau chỉ bị giáng xuống Thiếu Tướng, không đưa ra công khai vì sợ lột trần tội ác của Lê Duẩn và xấu mặt cả đảng.- Cựu Đại Sứ MTGPMN tại Paris, CSVN tại Liên Hợp Quốc Đinh Bá Thi (1921-1978), tên thật là Hồ Đản, sau khi hoạt động tình báo tại Hoa Kỳ bị lộ, bị sát hại qua tai nạn xe hơi tại Phan Thiết.

- Đại Tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), nguyên là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị cho là theo phe Hoàng Văn Hoan.

- Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986), có mặt trong đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, sui gia với Võ Nguyên Giáp. Khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột chết ngày 2/7/1986. Trước khi chết, chính Hoàng Văn Thái nói với vợ “Người ta giết tôi.”. Có tin là bị Lê Đức Thọ sát hại vì e ngại người khác phe sẽ khui ra nhiều chuyện của Dũng và Thọ… để đưa Đại Tướng Lê Đức Anh lên vào tháng 2/1987.

- Đại Tướng Lê Trọng Tấn , tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân dân Việt Nam, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam. Chết thình lình ngày 5/12/1986. Có tin cũng bị Lê Đức Thọ sát hại khoảng 5 tháng sau khi sát hại Hoàng Văn Thái.

- Thượng Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987), người hùng đường mòn Hồ Chí Minh, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ (tên thật là Phan Đình Khải, 1911-1990, Bí Thư Thường Trực Ban Bí Thư, phụ trách tổ chức kiêm Trưởng Ban Chính Trị Đặc Biệt) (*), và là anh của Mai Chí Thọ (tên thật là Phan Đình Đống, 1922-2007, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Đại Tướng Công An). Khi thấy Lê Đức Thọ tác oai, tác quái, tùy tiện bắt giam nhiều đồng chí cao cấp không cần chứng cứ, không cần xét xử, Đinh Đức Thiện đã phải nói với anh mình rằng: “Anh không thể làm những việc thất đức như thế được. Anh đừng có làm nhục dòng họ Phan, anh không lo rồi họ đào mả bố chúng ta lên à?” thì bị “lạc đạn” chết trong lúc đi săn, nhưng nhà cầm quyền nói là tai nạn giao thông. Mộ của Lê Đức Thọ chôn ở nghĩa trang hàng đầu là Mai Dịch ở Hà Nội vẫn bị có người đem phân đến ném nên sau phải đưa về quê ở Nam Định!. Họ Phan Đình với 3 anh em đều lên đến tột đỉnh danh vọng thế mà đều tuyệt tự!?

(*) Lê Đức Thọ cùng Lê Duẩn chủ trương chiếm miền Nam bằng bạo lực, đàn áp đối lập trong đảng. Thọ là người họp bàn với Henry Kissinger về Hiệp Định Paris 1973. người nắm Ban Tổ Chức Trung Ương đảng CSVN sắp xếp mọi việc quan trọng và đưa nhóm thiếu trình độ Lê Đức Anh – Đỗ Mười lên cầm quyền, là nhóm hèn nhát trong đảng CSVN qụy lụy Trung Quốc… Nên Thọ bị nhiều người ghét, thậm chí căm thù. Theo tác giả Trần Nhu, Ban Tổ Chức Trung Ương gồm: – Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng thời Lê Đức Thọ do Trần Quyết làm Trưởng ban. – Ban Nội Chính Trung Ương Đảng do Hoàng Thao làm trưởng ban. – Ban Bảo Vệ Bộ Chính Trị do xếp Nguyễn Đình Hưởng. – Ban Chỉ Đạo Trung Ương Đảng do xếp lớn Nguyễn Đức Tâm. – Ban Bảo Vệ Đảng đứng đầu là Nguyễn Trung Thành. – Cục Chính Trị Trung Ương Đảng: ông Kim Chi, quan lớn có bóng không có hình.

Nhưng tất cả những kẻ đứng đầu các tổ chức ngầm đan chéo trên cũng chỉ là những chuyên viên của các bộ môn trong ngành mật vụ giúp việc cho Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng Lê Đức Thọ mà thôi.

Nhiệm vụ của nó là thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ các ủy viên trung ương đảng, thẩm tra các ủy viên Bộ Chính Trị, xem xét về mặt chính trị, tư tưởng của các cán bộ dự kiến bầu vào Ban chấp hành trung ương đảng, Bộ Chính Trị, và kiện toàn bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chỉ đạo quốc hội, các cơ quan nhà nước, tổ chức chỉ đạo các đoàn thể ngoại vi như Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo; đặc biệt là kiểm soát, giám sát chặt chẽ quân đội từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu đến các Quân Khu, Sư Đoàn, Trung Đoàn đều có Ban Bảo Vệ Cục Chính Trị đặt dưới quyền chỉ đạo của Cục An Ninh Bộ Nội Vụ.

Chính Cục An Ninh Bộ Nội Vụ này theo lệnh của Lê Đức Thọ đã cho mật vụ giết Đại Tướng Hoàng Văn Thái vào khoảng 1986, và năm sau lại giết Đại Tướng Lê Trọng Tấn , đồng thời bắt hàng loạt các sĩ quan cao cấp trong Bộ Quốc Phòng…

Bề ngoài, TBT Lê Duẩn là quyền lực cao nhất, nhưng thực chất bên trong là ông vua không ngai Lê Đức Thọ. Cũng theo Trần Nhu: Thí dụ như trường hợp Đại Tướng Võ Nguyên Giáp có mấy đứa con học ở nước ngoài đều bị mật vụ của Thọ chiếu cố tận tình, như Võ Điện Biên học ở Đông Đức, Võ Thị Hòa Bình học ở Ba Lan, Võ Thị Hồng Anh học ở Nga. Do những hệ luỵ này mà tướng Giáp phải trả giá quá đắt. Chúng ta cũng biết con gái của Tổng Bí Thư Lê Duẩn là Lê Vũ Anh , học ở Nga, vì lấy viên sĩ hàn lâm học Maslov, mặc dù đã có 3 con với nhau, vẫn bị mật vụ của Thọ giết chết một cách rất thảm chỉ vì cái luật quái gở cấm các sinh viên không được lấy người nước ngoài. Luật này không thành văn, mà chỉ là luật miệng giữa các lãnh tụ với nhau.

- Trung Tướng Phan Bình (1934-1987), Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi vừa bị Lê Đức Anh tước mất quyền, bị giết bằng cách bắn vào đầu ngày 13/12/1987 tại Sài Gòn, nhưng nhà cầm quyền cho là tự sát, 1 tháng sau con trai cũng trong quân báo, cũng bị hãm hại sau khi ép vào bệnh viện với lý do “tâm thần”.

- Thủ Tướng CSVN Phạm Hùng ? (1912-1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, tại nhiệm 1987-1988. Chết đột ngột (vì bệnh tim) ngày 10/3/1988 tại Sài Gòn, khi đang tại chức.

- Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám (1948-2008), đặc trách tình báo gián điệp đột tử trong lúc khỏe mạnh và đi công tác đó đây liên tục vào ngày 12/12, mà ngày 15/12, các cơ quan truyền thông mới được đồng loạt loan tin là chết sau một thời gian dài lâm bệnh, mà không nói bệnh gì !?… Nhiều tin đồn cho rằng bị đầu độc? Tháng 12/2008, sau khi thăng chức từ Trung Tướng lên Thượng Tướng thì mươi ngày sau ông bị chết bất đắc kỳ tử. Trước đó, từ năm 2006 đã có thư của Phạm Gia Khánh, tự xưng là cán bộ trong Tổng Cục An Ninh, tố cáo TT Thi Văn Tám tham nhũng, đã đưa dự án về cục A35, trị giá nhiều chục tỷ đồng, rồi ông trực tiếp phụ trách. Người tố cáo, có tin là do tranh giành quyền lực, đã gửi thứ tới đích danh Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh v.v…

Các trường hợp kết án, trù dập khác.

- Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Hoàng Văn Hoan (1905-1991), Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Chính Trị Viên Vệ Quốc Quân Toàn Quốc. Từ năm 1950 đến năm 1957, làm Đại Sứ đầu tiên của CSVN tại Trung Quốc kiêm Đại Sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Sau bị trù dập, nên năm 1979, nhân một chuyến đi sang Đông Đức chữa bệnh, ông đã bỏ trốn qua Trung Quốc, bị kết án tử hình khiếm diện về tội phản quốc, sau mất tại TQ, chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, sau này một phần hài cốt được đem về nước. Là tác giả cuốn “Giọt Nước Trong Biển Cả” xuất bản năm 1988, tố giác chế độ độc đoán Lê Duẩn…

- Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2011), Bộ Trưởng Quốc Phòng, bị nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn cho là theo xét lại của Liên Xô và chống đảng, tìm cách hạ bệ qua vụ án “Xét Lại Chống Đảng” năm 1967, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống đảng, chống nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài.”. Võ Nguyễn Giáp bị bắt lỗi từ việc nhận 1 lá thư của TĐS Liên Xô mà không báo cáo theo nội quy đảng… Năm 1980, Võ Nguyễn Giáp bị thôi chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Năm 1983, bị hạ nhục khi cho làm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Gia Dân Số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch khi ủy ban này được thành lập, năm 1991, chính thức nghỉ hưu. Có lúc nhóm Lê Duẩn còn định quản chế Giáp ở một nơi biệt lập. Từ khoảng năm 1965, 67, hàng 50 năm sau cùng của đời ông, Giáp thường chỉ ra mặt mang tính hình thức, không có quyền hành gì (Vụ Tổng Công Kích Mậu Thân năm 1968 hay Chiến Dịch Hồ Chí Minh năm 1975 kể như không có Giáp, còn bị nhóm cực đoan giáo điều Lê Duẩn cho là hèn nhát). Vì vậy mới có thơ: Ngày xưa Đại Tướng cầm quân, Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em!
Đùng một cái Võ Nguyễn Giáp theo Sắc Lệnh số 110/SL ngày 28/5/1948, được Hồ Chí Minh đưa lên làm “Đại Tướng”, đùng một cái mất hết! Cho thấy thực ra Giáp cũng chẳng có tài cán và thế lực gì đặc biệt. Phần lớn thành tích đều là tuyên truyền và chiến công đều bằng sự hy sinh xương máu của hàng trăm ngàn bộ đội và dân chúng. 

Về “Chủ Nghĩa Xét Lại”: Vào tháng 9/1953, Nikita Khrushchev (1894-1971) được bầu làm Bí Thư Thứ Nhất Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô. Năm 1956, tại Đại Hội Lần Thứ 20 Đảng Cộng Sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo phê phán nặng nề sự tàn ác vô song và sự sùng bái cá nhân của I. V. Stalin (1879-1953). Vì thấy đối đầu với Tư Bản quá mạo hiểm và không dễ gì thắng, Khrushchev chủ trương thay vì tận diệt Tư Bản thì chung sống hòa bình. Các đoàn đại biểu CS các nước khi đi dự thì đều tàn thành, nhưng khi về nước rồi thì một số ngả theo lời kêu gọi Mao Trạch Đông (1893-1976), Trung Quốc, chống lại và gọi đó là “Chủ Nghĩa Xét Lại”. Thế giới CS chính thức chia đôi vì ý thức hệ từ đó.

Đây là một biến cố rất lớn, ảnh hưởng tới đường lối của đảng CSVN vì khi đó tại VN đang sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh và diễn ra Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất, giết người rất gay gắt. Nhờ vậy mà vụ giết người dần dần dừng lại, nhận sai lầm…

Nhưng sau khi Lưu Thiếu Kỳ qua VN thì CSVN ngả hẳn theo TQ. Tại Hội Nghị Trung Ương lần thứ IX cuối năm 1963, các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã lên án “Chủ Nghĩa Xét Lại”, đứng về phía Trung Quốc và ra Nghị Quyết 9 (trong bí mật) chủ trương đẩy mạnh công cuộc tiến chiếm miền Nam bằng vũ lực. Những bất đồng trong nội bộ đảng nổ ra năm 1963-64 và tiến tới đợt bắt giữ nhóm thân Liên Xô vào năm 1967.

- Ung Văn Khiêm (1910-1991), khi đó là Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, bị mất chức vì quy cho là trách nhiệm vụ thảo bản Tuyên Bố Chung năm 1963, với lập trường ủng hộ Liên Xô mà Hồ Chí Minh duyệt rồi ký với lãnh tụ đảng CS Tiệp Khắc Antonín Novotný…
Năm 1967, vụ đàn áp lên cao độ, hàng chục các bộ cấp Chính Trị Bộ, Trung Ương Đảng, Tướng Tá bị bắt không xét xử, hầu hết bị giam cầm đến năm 1973…
Năm 1954, Lê Duẩn lén ở lại trong Nam, năm 1957, Lê Duẩn từ Nam ra Bắc, năm 1960, năm vai trò TBT bên cạnh Chủ Tịch HCM. Duẩn là người đầy uy quyền, xưng tôi với HCM, bài viết đôi khi tỏ ý có cao kiến hơn cả HCM, là điều không thấy ở bất cứ nhân vật cao cấp CS nào khác, mọi người vẫn phải đến xin chỉ thị kể cả khi Duẩn nằm trên giường bệnh và đã tại vị đến chết, sau đó đảng CSVN mới định nhiệm kỳ.
Nhưng từ năm 1972 trở đi, TQ bắt tay với Hoa Kỳ, lạnh nhạt với CSVN nên CSVN quay ra thân mật với Liên Xô. Năm 1979, Lê Duẩn đoạn tuyệt với Trung Quốc, trục xuất khoảng 200.000 người Hoa và đi tới chiến tranh với TQ tại biên giới và trên biển.

- Đại Tướng Văn Tiến Dũng (1917-2002), Ủy Viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân, tư lệnh “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” chiếm miền Nam năm 1975. Tác giả cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” ra vào tháng 5/1976. Từ tháng 12/1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Thuộc phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Vợ là Nguyễn Thị Kỳ (tên thật là Cái Thị Tám), cũng là cán bộ CS. Sau năm 1975, khi nắm quyền tột đỉnh, hai vợ chồng ngang nhiên tham nhũng, dùng cả quân xa của đơn vị H12, H14 thuộc Tổng Cục Hậu Cần cướp tài sản quân đội… miền Nam chở ra Bắc và máy bay vận tải quân sự như Antonov An-24 hay An-26 buôn lậu hàng từ Bắc vào Nam bán cho người Hoa… Năm 1986, trong Đại Hội Đảng Bộ Toàn Quân, Dũng bị chỉ trích là tướng lãnh mà đi buôn lậu gây tai tiếng chưa từng có cho quân đội nên không được bầu làm Đại Biểu Chính Thức đi dự Đại Hội Đảng VI (dù Lê Đức Thọ bênh vực Dũng, đòi bỏ phiếu lại nhưng vẫn không đủ túc số). Ngay sau đó, Dũng mất ghế trong Bộ Chính Trị và mất chức Bộ Trưởng Quốc Phòng. Từ năm đó cho tới khi chết, tuy được coi là một “tướng tài”, không được nắm giữ bất cứ chức vụ nào và hầu như không còn được nhắc nhở tới nữa.

- Thượng Tướng Trần Văn Trà (tên thật là Nguyễn Chấn, 1919-1996), Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn – Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950); Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954). Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, giữ chức Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân VN (1955-1962), Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Quân Huấn (1958)… Từ năm 1963, Trần Văn Trà được cử vào Nam làm Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam (1963-1967 và 1973-1975), Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam (1968-1972), Phó Bí Thư Quân Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam. Sau Hiệp Định Paris (1973), làm Trưởng Đoàn Đại Biểu Quân Sự Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên Hiệp Đình Chiến 4 bên ở Sài Gòn. Sau 30/4/1975, Trần Văn Trà lảm Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn. Khi về hưu, tham gia Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, nhưng sau được đảng phủ dụ nên tách ra. Viết hồi ký “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” (có ý chê trách trung ương thiếu hiểu biết tình hình thực tế) bị phê bình “qua mặt” trung ương, cấm xuất bản nên chí có ấn bản dở dang.

- Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh (1927-), chính ủy Sư Đoàn 304 Tây Nguyên, Bí Thư Đảng Ủy Sư Đoàn 3, Quân Khu 5, tháng 6/1978, làm Viện Trưởng, Bí Thư Đảng Ủy Học Viện Your browser may not support display of this image.Chính Trị Quân Sự. Từ tháng 4/1979 đến năm 1996, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân VN, Ủy Viên Quân Ủy Trung Ương… Đứng tố giác Tổng Cục 2 lợi dụng chức vụ vu oan giá họa các đồng chí cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp… nên bị trù dập.

- Trung Tướng Trần Độ , tên thật là Tạ Ngọc Phách (1923-2002), năm 1946, ở tuổi 23, làm Chính Ủy Mặt Mrận Hà Nội. Năm 1950, làm Chính Ủy Trung đoàn Sông Lô, rồi Chính Ủy Đại Đoàn (SĐ) 312. Năm 1955, Trần Độ lúc 32 tuổi là Chính Ủy Quân khu 3 (Quân Khu Tả Ngạn) và đến năm 1958 được phong hàm Thiếu Tướng, năm 1974, được phong hàm Trung Tướng… Ông còn làm Phó Chủ Tịch Quốc Hội khóa 7, Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục của QH. Ông là Tướng võ kiêm văn, có tư tưởng cải cách, cởi mở. Thời Đổi Mới, “cởi trói” tư tưởng của TBT Nguyễn Văn Linh, ông thuộc Ban Văn Hóa Đảng, là người soạn Nghị Quyết số 5, được Bộ Chính Trị thông qua vào tháng 12/1986, cho phép tự do sáng tạo và sách báo được lưu hành dễ dãi hơn nếu không có nội dung “phản động”… từ đó nhiều tác phẩm bị cấm như của những nhân vật trong Phong Trào Nhân Văn – Giai Phẩm… được tái bản. Nhưng khi Đông Âu lung lay và phong trào sinh viên xuống đường nổ ra ở Thiên An Môn, đảng CSVN e ngại sụp đổ theo, bắt đầu xiết lại. Tháng 3/1989, trong cuộc họp kỳ 6 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN, Nguyễn Văn Linh đòi đình chỉ những “cởi trói” trong 3 năm vừa qua. Trần Độ vẫn ủng hộ tiến trình nới lỏng, tạp chí “Phê Bình và Dư Luận” do ông chủ trương, có nội dung đả trích nhà cầm quyền, nên sau khi ra được 1 số thì bị cấm. Trần Độ bị chỉ trích và bị Lê Đức Thọ cách chức, khai trừ năm 1999 (lúc đó 58 tuổi đảng). Sau viết “Nhật Ký Rồng Rắn” lên án chế độ CS không tiếc lời, bị công an theo tịch thu khi trên đường đi sao ra nhiều bản, nhưng ông còn bản gốc, đã phổ biến khắp nơi, bị cấm xuất bản trong nước. Trong có đoạn: “… Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xóa bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội chưa tốt đẹp, còn nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, của một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”. Khi chết tang gia không được đề quân hàm “Trung Tướng”, vòng hoa phúng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị gỡ chữ “Đại Tướng” ra.

- Thiếu Tướng Lê Thiết Hùng , tên thật là Lê Văn Nghiệm, (1908-1986), theo Lê Hồng Phong qua Thái Lan, rồi theo lệnh tổ chức, tham gia quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch làm tới Đại Tá, 2 lần sang Nhật gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm chính trị viên đội vũ trang đầu tiên gồm 12 người, Tư Lệnh Binh Chủng Pháo Binh, Hiệu Trưởng Trường Lục Quân Việt Nam, Cục Trưởng Cục Quân Huấn, Tổng Thanh Tra Quân Đội, là tướng được phong đầu tiên…, bị bắt vì cho là cùng phe Võ Nguyên Giáp.

- Thiếu Tướng Đặng Kim Giang (1910-1983), bị Pháp bắt kết án giam 12 năm tù, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần Quân Đội NDVN, tham gia trận Điện Biên Phủ 1954, Đại Biểu Quốc Hội, bị bắt giam 6 năm (có lúc cũng tại Hỏa Lò nơi bị Pháp giam) và 7 năm quản chế vì cho là chủ trương chia ruộng đất và khuyến khích tư sản, theo xét lại cùng phe Võ Nguyên Giáp. Năm 1995, tức gần 30 năm sau, bà Nguyễn Thị Mỹ, 77 tuổi, vẫn còn đi khiếu nạn về trường hợp của chồng. Trong thư kêu cứu có đoạn: Tôi đã có đến ông Lê Đức Thọ và ông Trần Quốc Hoàn. Ông Trần Quốc Hoàn tránh không tiếp. 
Tôi nói với ông Lê Đức Thọ:
“Anh Giang phạm tội gì mà các anh còng tay, còng chân mang đi? Sao đối xử với nhau tệ thế? Có phải gián điệp của đế quốc không? Nếu phải, đem xử bắn. Mẹ con tôi tán thành”.
Ông Thọ nói:
“Không phải. Đây là cuộc đấu tranh nội bộ, không đem ra xử công khai được. Chị cứ yên tâm. Chúng tôi không bỏ tù nhau đâu. Thuyết phục nó không được, phải dùng biện pháp hành chính. Khi nào nó nghe ra sẽ về thôi. Cửa nhà tôi lúc nào cũng rộng mở. Chị có khó khăn gì cứ đến.”. Thật ra cánh cửa đó đã vĩnh viễn sập lại sau lưng tôi kể từ ngày đó…
Gần Đại Hội 5, chồng tôi đang bị nhồi máu cơ tim, viết một lá đơn khiếu oan, trình bày khúc chiết vấn đề này, đề nghị Đại Hội cử một tiểu ban kiểm tra lại và có kết luận rõ ràng vì đây là một vụ án lớn nhất từ trước đến nay có liên quan đến nhiều người: có ủy viên Bộ Chính Trị, có ủy viên Trung Ương, có Bộ Thứ Ttrưởng, có Tướng Tá và cán bộ cao cấp…
Lá đơn đó được gửi đến cho các ủy viên Trung Ương Đảng, cho Đại Hội 5, cho Ban Bí Thư, cho Tổng Bí Thư v.v…
Sau đó, tháng 9/1982, chồng tôi lại bị bắt trở lại, “về tội tán phát đơn khiếu nại làm mất uy tín của đảng”. Lần này chồng tôi bị đưa đi giam cầm tại Nam Định 8 tháng…
Chúng tôi có 7 con. Sau khi cha bị buộc tội thì mỗi đứa con một thảm kịch. Đây là một cuộc “tru di tam tộc”…
Từ năm 1980, gia đình Đặng Kim Giang hơn 10 người sống chen chúc trong một túp nhà tranh vách đất rách nát 14 mét vuông… và Giang chết trong khi nước mưa dột rơi vào người.

- Thiếu Tướng Lê Quảng Ba , tên thật là Đàm Văn Mông, dân tộc Tày (1914-1988), nguyên Tư Lệnh đầu tiên Quân Khu Việt Bắc năm 1949, năm 1951, làm Đại Đoàn Trưởng đầu tiên Đại Đoàn 316, bị kết tội cùng phe Hoàng Văn Hoan (?). – Thiếu Tướng Chánh Thanh Tra Bộ Công An Trần Văn Thanh (1953-, vì tố tham nhũng). – Ủy Viên Bộ Chính Trị, từng du học Liên Xô 5 năm, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An (1937-), nhiệm kỳ 2001-2006, phê bình tính mất dân chủ trong đảng, đòi thực thi dân chủ  

- Cựu Phó Thủ Tướng CSVN Đoàn Duy Thành (1929-), tác giả cuốn hồi ký “Làm Người Là Khó”, chủ trương làm khoán (bị cho là phạm chính sách, bị Đỗ Mười trù dập). Được coi là thân với Lê Duẩn, khi dự đám tang Lê Duẩn năm 2006, các con của Lê Duẩn đã hỏi ông Đoàn Duy Thành “Họ có giết chúng cháu không!?”.

- Ủy Viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách , tên thật là Vũ Thiện Tuấn(1924-2006), vì có tư tưởng đổi mới, kêu gọi đa nguyên, đa đảng sau khi đi quan sát sự sụp đổ của Đông Âu, bị khai trừ.

- Hoàng Minh Chính (1920-2008), năm 1947 từng tham gia lãnh đạo trận đánh sân bay Gia Lâm, được đảng CSVN cử làm Tổng Thư Ký đảng Dân Chủ thành lập năm 1944 để tập hợp giới tư sản và trí thức. Năm 1957, được cử sang Liên Xô theo học Trường Đảng Cao Cấp. Năm 1960, về nước, được bổ nhiệm Viện Trưởng Viện Triết Học Mác-Lênin, bị bắt biệt giam 6 năm không xét xử, bị quản chế ở Sơn Tây từ 1973 đến 1976 vì cho là trong nhóm xét lại. Năm 1995, ông Hoàng Minh Chính còn bị kết án 1 năm tù vì tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Sau 3 lần bị Thọ bỏ tù mà không khuất phục nổi ý chí của Hoàng Minh Chính, Thọ đã định bí mật thủ tiêu. Ông Chính đã đanh phải thép tuyên bố: “Có bắn thì bắn trước mặt, bắn sau lưng là hèn.”. Tổng cộng ông đã bị 12 năm tù, 9 năm quản chế. Sau này, khi lên tiếng tranh đấu Dân Chủ và phục hoạt đảng Dân Chủ thì bị trù dập. Năm 2005, ông qua Hoa Kỳ chữa bệnh, đến phát biểu tại đại học Harvard về đề tài dân chủ cho Việt Nam và điều trần trước Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ. Tháng 10/2005, trước khi về lại VN, ông có cuộc họp báo tại San Jose, cho hay từng có âm mưu hãm hại HCM, và nhóm ông tìm cách báo tin này cho HCM… Khi về VN, ông bị công an trả thù, cho bọn côn đồ và cựu chiến binh đến nhà chửi rủa và quăng phân…

- Nguyễn Hộ (1916-2009), gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1937. Năm 1940, ông bị nhà cầm quyền Pháp ghép tội kích động đình công ở xưởng đóng tàu Ba Son, bị tuyên án tù 5 năm ở Côn Đảo. Sau 1975, lãnh đạo Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, ông nói: Ngày xưa nếu CNCS đã cứu đất nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu. Năm 1989, tổ chức này cũng bị nhà cầm quyền giải tán. Bất bình, ông từ bỏ đảng năm 1991 sau hơn 53 năm trong đảng. Sau đó ông bị bắt và quản thúc tại gia vì tội “chống đảng”. Ông đưa ra “Giải Pháp Hòa Hợp Hòa Giải” và cuốn sách “Quan Điểm Và Cuộc Sống”. Sách của ông kêu gọi đảng CSVN hãy từ bỏ Chủ Nghĩa Mac-Lênin. Vì vậy ông bị nhà cầm quyền bắt lần thứ 2 năm 1994. Theo ông Việt Nam ở thời điểm năm 2008 chỉ có độc lập chứ không có tự do…
- Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), Chính Ủy Bộ Tư Lệnh Khu 9, Năm 1938, ông sáng lập tờ Le Peuple (Dân chúng). gày 25/8/1945, ông lãnh đạo cuộc đảo chính cướp chính quyền ở Sài Gòn. Do có những hành động quyết liệt với các phần tử đối kháng, ông bị gọi là hung thần Chợ Đệm. Có giả thuyết cho rằng Nguyễn Văn Trấn cũng từng là “hung thần”, là một trong 3 người đã thực hiện việc giết Tạ Thu Thâu (1906-1945), 2 người kia là Kiều Đắc ThắngNguyễn Văn Tây . Năm 1954, tập kết ra Bắc, trở thành Giảng Viên trường Nguyễn Ái Quốc, rồi Vụ Phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương… Trong những năm cuối đời, ông nghi ngờ về vai trò của đảng CSVN, tham gia Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ và ký vào bản kiến nghị 100 người năm 1988 kêu gọi thay đổi cách thức bầu cử. Ông viết cuốn “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” nói lên mặt trái của chế độ, bị cấm lưu hành trong nước. Trong cuốn này ông cũng đề cập tới chuyện Lê Đức Thọ muốn thay HCM bằng Tướng Nguyến Chí Thanh…
Năm 1997, ông là một trong 45 nhà văn được Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải Hellman/Hammett dành cho các nhà văn bị đàn áp chính trị.

Ngoài ra, bị trù dập còn có Đại Tá Lê Trọng Nghĩa là Cục Trưởng Cục 2, Đại Tá Lê Minh Nghĩa là Chánh Văn Phòng Bộ Quốc Phòng, Đại Tá Đỗ Đức Kiên là Cục Trưởng Cục Tác Chiến, Lê Liêm , Bùi Công Trừng , Hoàng Thế Dũng là Tổng Biên Tập báo Quân Đội Nhân Dân, Minh Tranh là Giám Đốc nhà xuất bản Sự Thật, Nguyễn Kiến Giang là Phó Giám Đốc nhà xuất bản Sự Thật, Trần Minh Việt là Phó Bí Thư thành ủy Hà Nội, Phạm Viết là Phó Tổng Biên Tập báo Hà Nội Mới, Phạm Kỳ Vân là Phó Tổng Biên Tập tạp chí Học Tập, Trần Thư là Tổng Thư Ký báo Quân Đội Nhân Dân… trong bộ tham mưu của Tướng Giáp. Sau này có Nguyễn Trung Thành , Lê Hồng Hà , Vũ Đình Huỳnh là Bí Thư của HCM (bắt ngày 18/10/1967), Vũ Thư Hiên (con của Vũ Đình Huỳnh), Nguyễn Minh Cần … Rồi Nhóm Nhân Văn – Giai Phầm, thêm nhà văn nhà kiêm biên kịch Hoàng Công Khanh (Vụ Trưởng, Giám Đốc Sở Văn Hóa – Thông Tin Hải Phòng). Và ngay cả Hồ Chí Minh (1890-1969), bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lấn át, cô lập, cũng chỉ là bù nhìn trong khoảng 10 năm cuối đời… – – – 

Thực ra CSVN không dễ gì giữ thăng bằng khi đi dây giữa hai đàn anh lớn có khuynh hướng trái ngược, nên có lúc ngả hẳn bên này, lúc ngả hẳn bên kia. Hoàng Tùng đã cay đắng phải nói, HCM qua Tàu thì Mao Trạch Đông kéo theo đường lối của Mao, qua Nga thì Stalin kéo theo đưòng lối của Stalin… Viện trợ của hai nước này cho CSVN trong thời chiến vỉ vậy cũng hay gặp trở ngại, nhu lúc thì Trung Quốc hứa mà không viện trợ hay khi viện trợ của Liên Xô đi ngang qua đất Trung Quốc bị chặn lại… – Thời 1930, theo Đệ Tam Quốc Tế tức Liên Xô. – Thời 1963, nhóm Lê Duẩn theo Trung Quốc chống chủ nghĩa xét lại. – Thời 1975, thì theo Liên Xô rồi chống Trung Quốc, năm 1978, cũng chính thời Lê Duẩn đã ký Hiệp Ước An Ninh với Liên Xô, đuổi người Hoa về nước, dẫn đến chiến tranh biên giới 10 năm (1979-1989). – Thời 1990, khi Liên Xô tan rã, lại quay về với Trung Quốc. – Thời 2010, bắt đầu căng thẳng với Trung Quốc. Mỗi lần xoay 180 độ như vậy, trong thượng tầng nội bộ có những bất đồng trầm trọng, phe yếu thế bị trấn áp, dẫn đến chuyện đã có những người tỵ nạn phải tại Liên Xô như Nguyễn Minh Cần , tại Trung Quốc như Hoàng Văn Hoan

Chính trong hàng ngũ CSVN đã phải ta thán, đảng thay đổi đường lối như “phụ nữ thay quần lót”, mỗi lần như vậy, không biết bao nhiêu đảng viên bị trù dập. – – – Đối với nhân dân thì đảng CSVN ra tay thực hiện những vụ giết người, cướp của hàng loạt khiến khoảng 3-4 triệu ng ười chết như: – Phong Trào Sô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930. – Rèn Cán Chỉnh Quân năm 1953. – Cải Cách Ruộng Đất năm1953-1956. – Thống Nhất đất nước bằng bạo lực năm 1954-1975. – Đàn Áp Phong Trào Nhân Văn – Giai Phẩm, năm 1955-1958. – Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954. – Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1975

Theo Blog Tiengnoivietnam 


QUAN LÀM BÁO HOT LINKS

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Tiết lộ tuyệt mật về những chàng áo đen bên cạnh Putin

http://vtc.vn/10-323791/quoc-te/tin-tuc/tiet-lo-tuyet-mat-ve-nhung-chang-ao-den-ben-canh-putin.htm

Trong một chuyến thăm của ông Putin đến Gruzia khi còn là Tổng thống, các nhà báo đã rút máy ảnh để chụp trộm, nhưng ngay lập tức chấm laser của súng ngắm xuất hiện trên trán họ.

Vừa qua Thủ tướng Nga Putin đã trở thành mục tiêu ám sát của nhóm sát thủ đến từ Ukraine. Cũng như âm mưu ám sát trước đây, nó đã bị cơ quan an ninh đặc biệt phá vỡ đồng thời bắt giữ ngay những kẻ liên quan. 

Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho các nguyên thủ cấp quốc gia, không chỉ có các đơn vị đặc biệt chuyên điều tra, tấn công sớm mà còn phải kể đến lực lượng vệ sĩ luôn bên cạnh những yếu nhân này.

Một vệ sĩ của Putin trong chuyến thăm của ông đến London năm 2003. 
Trực thuộc Cục an ninh Tổng thống, từng là 1 đơn vị của Cơ quan tình báo KGB, đây là những thành viên đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ Tổng thống, điện Kremlin cũng như một số quan chức cấp cao khác của nhà nước Nga. 

Để có thể được phục vụ trong hàng ngũ này những người đàn ông phải đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về cả sức khỏe, kinh nghiệm lẫn trí thông minh.

Đặc điểm thường thấy là đa số họ đều có xuất thân từ quân đội, môi trường rèn luyện con người vào những khuôn khổ và khả năng chịu đựng vô cùng lớn. Phải có chiều cao từ 1m80 trở lên và cân nặng không dưới 75kg, những anh chàng này trông có vẻ nặng nề nhưng lại là những người vô cùng nhanh nhẹn và sử dụng vũ khí rất tuyệt vời.
Vệ sĩ thân cận nhất của ông Putin, Ivan làm nhiệm vụ khi ông đến thăm triển lãm hàng không Mask năm 2011.  
Làm việc với Putin, đa số các vệ sĩ đều cảm thấy dễ chịu. Không chỉ gần gũi với cấp dưới, xuất thân là 1 điệp viên đơn tuyến của KGB, Putin hiểu hơn ai hết những nguy hiểm có thể rình rập ở đâu. Bởi thế khi nhận được cảnh báo của các vệ sĩ, ông thường hành động theo những hướng dẫn của họ, những người có khả năng quan sát và phán đoán tốt nhất.

Để có được một buổi nói chuyện hay đi thăm thành công luôn đòi hỏi sự làm việc tập trung của các vệ sĩ. Thông thường các vệ sĩ sẽ được chia thành 4 lớp để đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn an toàn cho 'mục tiêu' - tiếng lóng mà họ dành cho nguyên thủ cần được bảo vệ.

Lớp trong cùng là những người cao to, luôn quan sát, nghe ngóng với sự tập trung cao nhất. Được biết, để làm nhiệm vụ này, họ sẽ được tiêm một
 số hóa chất tăng khả năng làm việc của các giác quan như thị giác và thính giác. 

Khi có sự cố xảy ra đây sẽ là những lá chắn sống cho nguyên thủ để đảm bảo an toàn cuối cùng.

Bức ảnh hiếm hoi về đội bảo vệ như đang ra trận của Putin khi ông giữ chức Tổng thống Nga và đến thăm Nazran, Ingushetia năm 2004.  

Thứ 2 là những người làm nhiệm vụ trà trộn vào đám đông, quan sát và thậm chí là hành động
 như những kẻ móc túi để kiểm tra những đối tượng tình nghi. 

Thứ 3 là một lớp các vệ sĩ vòng bên ngoài đám đông, họ sẽ thực hiện nhiệm vụ chặn đứng kẻ tình nghi khi xâm nhập hoặc tẩu thoát. 

Cuối cùng là những nhân viên với súng bắn tỉa được bố trí trên các nóc tòa nhà xung quanh, nhiệm vụ của họ là quan sát tầm rộng và có thể kết liễu sát thủ nếu phát hiện ra. 

Về những tay bắn tỉa này thì một số nhà báo tại Cộng hòa Gruzia đã được "thưởng thức", trong một chuyến thăm của ông Putin đến đây khi còn là Tổng thống, các nhà báo đã rút máy ảnh để chụp trộm, nhưng ngay lập tức chấm laser của súng ngắm xuất hiện trên trán h.

Luôn có 1 tay súng thuận tay trái đội hình các vệ sĩ (Người đứng ngoài cùng bên trái trong ảnh). 

Với tính chất nhiệm vụ đặc biệt, ngoài trang bị những vũ khí cơ động như súng ngắn Gyurza 9m, 
những vệ sĩ này còn sở hữu những vũ khí hạng nặng khác như AK 47 hay thậm chí là súng phóng lựu. 

Điểm đặc biệt mà ít ai biết về những đội vệ sĩ này: đó là luôn có ít nhất một người thuận tay trái trong đội hình để đảm bảo hoạt động được suôn sẻ trong mọi địa hình với các chướng ngại vật khác nhau.
 
.

Tàu đổ bộ lớn nhất của Nga bị đem bán sắt vụn

http://vtc.vn/311-348033/quoc-te/tau-do-bo-lon-nhat-cua-nga-bi-dem-ban-sat-vun.htm

Hải quân Nga đang lên kế hoạch bán phế liệu tàu đổ bộ lớn nhất của mình do chi phí nâng cấp quá lớn và khả năng phát triển không hiệu quả.
 

Một nguồn tin nội bộ của Hải quân Nga nói với báo Izvestia: "Dự án hiện đại hóa tàu Mitrofan Moskalenko không khả thi bởi lý do tài chính, con tàu bây giờ đã quá lỗi thời và chỉ còn giá trị tinh thần".

Nguồn tin này cũng cho biết thêm chi phí nâng cấp Mitrofan Moskalenko có thể dùng để đóng mới 2 tàu pháo hiện đại. 

Nguyên nhân còn nằm ở chiến lược hoạt động của Hải quân Nga, hiện nay, họ không có kế hoạch đổ bộ bằng đường biển ở bất cứ nơi nào.

Tàu Mitrofan Moskalenko được Liên Xô xây dựng trong Dự án 1174, đưa vào phục vụ năm 1991, thuộc biên chế của Hạm đội Biển Bắc. 

Tàu có thể phục vụ vận chuyển và đổ bộ cho 50 xe tăng hoặc 80 xe bọc thép hay 120 xe tải cùng 500 lính thủy đánh bộ.

Tàu đổ bộ khổng lồ Mitrofan Moskalenko thuộc dự án 1174 

Tàu đổ bộ khổng lồ này cũng có thể mang được 4 trực thăng tấn công, vận tải Ka-29 và trang bị các hệ thống tên lửa phòng không để hỗ trợ các hoạt động đổ bộ.

Hải quân Liên Xô đã đóng 3 tàu đổ bộ trong dự án 1174, đầu tiên là Ivan Rogov, đi vào phục vụ năm 1978 đã bị phá hủy vào năm 1996. Chiếc thứ 2 là Aleksandr Nikolaev, được xây dựng vào năm 1982 và hiện nay đượctrưng bày trong bảo tàng Hải quân.

Chiếc cuối cùng Mitrofan Moskalenko từ năm 2002 đến nay vẫn được bảo dưỡng tại cảng để chờ được định đoạt số phận.

Chuyên gia Hải quân Andrey Frolov nơi với Izvestia, các tàu đổ bộ từ thời Liên Xô đã quá cũ và không còn khả năng sử dụng, trong vòng 10 năm tới tất cả sẽ được loại bỏ hoàn toàn. 

Tuy nhiên,"việc cho các tàu đổ bộ này nghỉ hưu sẽ hạn chế rất nhiều khả năng tấn công ở nước ngoài của Hải quân Nga".

Tàu đổ bộ Mitrofan Moskalenko khi mới đưa vào phục vụ 

Để tăng tốc việc hiện đại hóa của hải quân, Nga đã đặt hàng 2 tàu sân bay trực thăng lớp Mistral của Pháp, đồng thời đóng thêm 2 tàu loại này ở các nhà máy của Nga theo giấy phép của Pháp.

Bên cạnh đó, 6 tàu đổ bộ cỡ lớn lớp Ivan Gren (Dự án 1171) sẽ được thay thế cho các tàu đổ bộ cũ từ thời Liên Xô bao gồm cả Mitrofan Moskalenko. 

Chiếc đầu tiên của lớp Ivan Gren đã đưa vào chạy thử ngày 18/5 năm nay và sự kiến sẽ đi vào phục vụ hải quân trong năm tới.

Theo báo Izvestia, Hải quân Nga có thể kiếm được tối đa 2.5 triệu USD từ việc bán phế liệu tàu Mitrofan Moskalenko, số tiền thu được từ 11.500 tấn thép làm nên con tàu đổ bộ khổng lồ này.


Tàu đổ bộ cỡ lớn Ivan Gren đang được xây dựng để thay thế các tàu cũ từ thời Liên Xô 

Tàu đổ bộ khổng lồ Mitrofan Moskalenko  

Xe thiết giáp di chuyển lên tàu Mitrofan Moskalenko trong một cuộc tập trận 

Tàu Mitrofan Moskalenko 

Nữ điệp viên CIA bí ẩn trong vụ tiêu diệt Bin Laden

http://vtc.vn/311-347942/quoc-te/nu-diep-vien-cia-bi-an-trong-vu-tieu-diet-bin-laden.htm

Tác giả cuốn sách gây xôn xao nước Mỹ chứa đựng những bí mật động trời xoay quanh vụ ám sát Bin Laden gần đây tiết lộ thêm thông tin về một nữ điệp viên CIA đầy bí ẩn – người có công đầu trong vụ tiêu diệt trùm khủng bố vào tháng 5/2011.

 
Matt Bissonnette - cựu đặc nhiệm SEAL, tác giả cuốn ‘No easy day’ (Ngày không yên) hôm 10/9 gây bất ngờ dư luận khi nói rằng nữ nhân vật Jen trong tác phẩm của mình chính là hình tượng được xây dựng dựa trên nguyên mẫu có thật về một nữ điệp viên CIA vô cùng đặc biệt.

Nữ điệp viên CIA bí ẩn trong chiến dịch tiêu diệt Bin Laden

Trong cuốn sách, Bissonnette kể mình đã ngồi cạnh một phụ nữ trong suốt chuyến bay dài tới Pakistan để thực thi nhiệm vụ truy sát trùm khủng bố khét tiếng Osama Bin Laden. 

Theo mô tả của cựu đặc nhiệm SEAL, đó là một cô gái trẻ và đặc biệt ‘tận tụy với công việc’.

 Nữ diễn viên Claire Danes đóng vai Carie Mathison trong series truyền hình thực tế Homeland được cho là tái hiện hình ảnh nữ điệp viên CIA bí ẩn trong chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Bin Laden

“Được CIA tuyển thẳng sau khi tốt nghiệp, cô đã có 5 năm theo đuổi chiến dịch tìm kiếm và tiêu diệt Osama Bin Laden. 

Với vai trò một nhà phân tích thông tin, ‘Jen’ xâu chuỗi các dữ liệu tình báo liên quan tới mục tiêu và là người đã chỉ điểm chính xác nơi trú ẩn của trùm khủng bố”, Bissonnette viết.

Cũng theo tác giả cuốn sách, trong cuộc trò chuyện trên chuyến bay vào tháng 5/2012, nữ đặc vụ đã nói ‘chắc như đinh đóng cột’ rằng người đàn ông trong căn hộ ở Abbottabad, Pakistan chính là Bin Laden.

Điều này thoạt đầu khiến Bissonnette không tin và thậm chí còn nghĩ rằng cô gái quá ngạo mạn về khả năng của mình.

Tuy nhiên, nhận định này đã được xác minh khi tận mắt cựu điệp viên SEAL chứng kiến cảnh Bin Laden bị hạ thủ như thế nào ở đúng địa điểm mà cô gái đã nhắc đến trước đó.

Trong đoạn tiếp câu chuyện, Bissonnette kể rằng anh đã bất ngờ lần thứ hai khi gặp lại cô gái bí ẩn xuất hiện cùng các quan chức quân sự Mỹ ngay trên chiếc máy bay đợi sẵn để vận chuyển thi thể trùm khủng bố đậu bên ngoài hang ổ của hắn.

 Osama Bin Laden bị đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt hôm 2/5/2011 tại nhà riêng ở Pakistan

“Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi lên máy bay và ngay lập tức, tôi bắt gặp cô ấy. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ vừa nhìn thấy thi thể Bin Laden, cô ấy bỗng bật khóc. Tôi chắc rằng đây là một sự kiện trọng đại trong đời cô”, tác giả ‘No easy day’ kể với đài CBS.

Cũng theo Bissonnette, tại thời điểm diễn ra chiến dịch vào năm 2005, nữ điệp viên CIA khoảng 27 tuổi và là một cô gái bướng bỉnh, mạnh mẽ và thẳng thắn.

Thậm chí có người còn cho rằng cô gái được nhắc tới trong cuốn sách ‘No easy day’ chính là hình mẫu ngoài đời của nhân vật Carrie Mathison (do nữ diễn viên Claire Danes thủ vai) trong series truyền hình thực tế Homeland nổi tiếng nước Mỹ bởi cả 2 có khá nhiều điểm chung.

Cú hạ cánh ‘ngoạn mục’ bên ngoài hang ổ của trùm khủng bố

Trong cuốn sách của mình, Matt Bissonnette còn kể về chuyến bay ‘đáng sợ’ từ Mỹ tới nơi trú ẩn của Bin Laden trong thành phố Abbottabad,  tỉnh Khyber Pakhtunkhwa, Pakistan.

 Chiếc trực thăng chở đội đặc nhiệm SEAL hạ cánh 'ngoạn mục' trên bờ tường bên ngoài căn hộ của Bin Laden

“Hầu hết các đặc nhiệm trên chuyến bay đều bất thình lình tỉnh giấc khi chiếc trực thăng đáp cánh ‘không mấy nhẹ nhàng’ xuống mặt đất. Thoạt đầu nó gần như lao thẳng một cách không kiểm soát rồi đột ngột xoay ngang 90 độ sang bên phải khiến tôi có cảm giác dạ dày đang lồng lên trong bụng.

Rồi chiếc trực thăng cứ thế lao đầu chúi xuống đất trong khi cánh quạt còn vắt vẻo mắc trên bức tường thành bao ngoài căn hộ của trùm khủng bố.

Nhưng thật may mắn, do rơi ở tầm thấp nên vụ va chạm không quá mạnh và cả đội đều an toàn. 

Đó là một trong hai chiếc trực thăng chở đội đặc nhiệm SEAL tới tiêu diệt Bin Laden. Sau cú hạ cánh ‘ngoạn mục’, chúng tôi đã bắt đầu nhiệm vụ như chưa hề có chuyện gì xảy ra”, Bissonnette viết.

Hạ gục Bin Laden trong ‘chớp mắt’

Cựu điệp viên SEAL – tác giả cuốn ‘ No easy day’ kể lại, khi trực thăng vừa tiếp đất, anh ta và một người đồng đội khác đã lao nhanh tới cửa chính của căn hộ nơi Bin Laden đang trú ngụ.

Sau một hồi dùng búa nện nhưng vẫn không thể mở được cánh cửa đã khóa chặt, họ quyết định dùng thuốc nổ.

 Căn hộ của Bin Laden ở thành phố Abbottabad, Pakistan

“Cánh cửa mở ra, đứng trước mắt tôi là người phụ nữ tay bế một đứa trẻ và 2 đứa khác đang sợ hãi núp đằng sau. 

Chúng tôi tiếp tục tiến sâu vào bên trong, lục soát từng tầng, từng căn phòng mà không tạo ra bất cứ tiếng động nào. Điều này quá dễ đối với một đặc nhiệm SEAL vì chúng tôi đã từng làm như thế hàng triệu lần rồi.

Lúc tiến lên cầu thang, vừa nhìn thấy một người đàn ông ló đầu ra ở phía hành lang, đồng đội của tôi vội vàng nổ súng. Người đàn ông bị trúng đạn.

Lần theo đến phòng ngủ, chúng tôi phát hiện Bin Laden đang nằm co giật giữa một đống máu loang trên sàn nhà vì vết thương chí mạng vào sọ.

Thấy vậy, tôi và đồng đội tiếp tục bắn thêm nhiều phát lên ngực cho đến khi ông ta chết hẳn.”, Matt Bissonnette kể lại.

 Phòng ngủ nơi phát hiện thi thể Bin Laden

Liên quan tới một chi tiết không đề cập tới trong cuốn sách, cựu đặc nhiệm SEAL nói thêm: “Lúc nổ súng ở phía cầu thang, chúng tôi không nhìn thấy tay của Bin Laden nên không biết liệu khi đó ông ta có cầm súng hay vũ khí gì không. 

Nhưng rõ ràng là vụ việc xảy ra trong chỉ trong chớp nhoáng chứ không phải là một cuộc đấu súng tay đôi kéo dài nhiều giờ như thông tin từng công bố.”

Bin Laden bị tiêu diệt là thật?

Mục tiêu đã bị tiêu diệt nhưng các đặc nhiệm SEAL vẫn cần bảo đảm họ không giết nhầm người. Bản thân Bissonnette ngay lúc đó cũng không thể chắc chắn liệu người đàn ông bị bắn chết có phải là Bin Laden thật hay không.

 Tổng thống Obama và các quan chức Mỹ hồi hộp theo dõi chiến dịch hạ thủ trùm khủng bố từ Nhà Trắng


 

 
 
 
Trong cuốn sách của mình, Bissonnette viết: “Nếu tôi nhớ không nhầm thì lẽ ra trông hắn phải già hơn thế. Nhưng sau khi đối chiếu  với chiều cao và cái mũi rất đặc biệt của Bin Laden, tôi càng tin đó là ông ta. 

Thiết nghĩ, chỉ vì cái thi thể đang nằm dài trên sàn nhà ấy mà chúng tôi đã phải mất đến hàng chục năm ‘ăn không ngon, ngủ không yên.

Đối với một trùm khủng bố bị truy lùng gắt gao nhất thế giới như Bin Laden, tôi thấy mình cần phải chụp lại khoảnh khắc đáng nhớ này và coi nó như một thành quả chờ đợi từ rất lâu”.

Ngoài Bissonnette, một số đặc nhiệm SEAL khác lúc đầu cũng tỏ ra nghi ngờ danh tính thực của người đàn ông được cho là Osama Bin Laden mà họ đã bắn chết ở Pakistan cho tới khi hoàn toàn bị thuyết phục bởi các chuyên gia quân sự Mỹ.

 Cái chết của Bin Laden được coi là thắng lợi vẻ vang của Obama trên đất Mỹ

Osama Bin Laden là lãnh đạo trùm khủng bố khét tiếng al-Qaeda, tổ chức đã thực hiện cuộc đánh bom lịch sử hôm 11/9/2001 ở Mỹ gây chấn động toàn thế giới.

 




Sau vụ tấn công, Nhà Trắng đã ra lệnh truy nã Bin Laden và phải hơn 10 năm sau, vào ngày 2/5/2011, trùm khủng bố mới bị tiêu diệt tại căn hộ ở thành phố Abbottabad, Pakistan.

Cái chết của Bin Laden được đánh giá là thắng lợi to lớn của chính quyền Obama kể từ khi người đàn ông da màu đầu tiên trở thành Tổng thống Mỹ vào năm 2008.

Hôm qua, 11/9/2012 là ngày kỷ niệm tròn 12 năm xảy ra sự kiện 11/9 và cái tên Bin Laden một lần nữa được gợi nhớ trong một phần lịch sử đau buồn của nước Mỹ.
 

 Người dân Mỹ ăn mừng cái chết của kẻ chủ mưu gây ra vụ khủng bố 11/9
 
 
Hạ Giang
.

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Hé lộ 'món quà' Việt Nam tặng Liên Xô sau giải phóng

http://vtc.vn/311-335676/quoc-te/he-lo-mon-qua-viet-nam-tang-lien-xo-sau-giai-phong.htm


Sự kiện: 
 
Đại tá Victor Kyznechov có những kỉ niệm khó quên tại Việt Nam, liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu các chiến đấu cơ F-5, A-37. Sau đây là những dòng cảm nhận được ông ghi lại trong những ngày tháng nhiều cảm xúc đó.

Một buổi tối tháng 11/1975, cố vấn kỹ sư trưởng của Không quân Nhân dân Việt Nam, Đại tá Mitin đến gặp chúng tôi. Ông chọn tôi, vì tôi có nhiều  kiến thức trong lĩnh vực vô tuyến, cho một nhiệm vụ mà ông không nói trước.

Sau đó, chúng tôi rời Hà Nội và bay vào Đà Nẵng, nơi có căn cứ quân sự lớn nhất của Việt Nam.

Căn cứ quân sự này có 2 đường băng cất và hạ cánh hướng ra biển. Ở giữa căn cứ có một trung tâm quản lý. Ngoài ra, tại căn cứ này còn có 2 điểm điều phối bay, 1 trong 2 điểm đó được bảo vệ.

Trong căn cứ lúc đó có 150 trực thăng và máy bay do Mỹ sản xuất. Tất cả đều trong tình trạng tốt.

Tại đây chúng tôi có trách nhiệm đảm bảo tình trạng kỹ thuật cho những phương tiện hàng không này, chuẩn bị di rời chúng bằng đường biển, đường bộ sang Liên Xô.

Đầu tiên chúng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu một chiếc F-5. Bởi các máy bay đều ở tình trạng tốt nên chúng tôi có thể xem xét kỹ từng chi tiết tại nhà chứa máy bay.

Chiếc F-5 đầu tiên đã bị chảy dầu ở bộ tản nhiệt và hỏng hệ thống liên lạc với trạm vô tuyến. Chúng tôi buộc phải chọn chiếc thứ 2, trong tình trạng hoàn hảo, và niêm phong lại để tránh bị đánh tráo thiết bị.

Máy bay tiêm kích hạng nhẹ F-5 hoạt động trong Không quân Nhân dân Việt Nam 
Cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là F-5 có nhiều điểm nổi trội hơn so với MiG-21. Hầu hết các bộ phận đều có kích thước khá lý tưởng.

Chẳng hạn bộ phận máy phát có kích thước chỉ bằng 1/2, 1/3 so với máy bay của Liên Xô. Máy bay dễ dàng sử dụng đến nỗi hầu như chúng tôi không phải dùng đến tài liệu hướng dẫn. Để nạp thêm dầu thì dùng một chiếc xe đẩy chuyên dụng có chứa diesel.

Về cấu tạo, khoang lái của F-5 khá giống với MiG-21, tuy nhiên các bộ phận lại nhỏ gọn hơn, rất nhiều trong số đó có chỉ thị dạng băng chuyền. Khoang lái được sơn màu ngọc lam nhẹ (giống màu của MiG-23 sau này).

Cùng với máy bay, chúng tôi được nhận thêm rất nhiều bộ phận thay thế và tài liệu kỹ thuật.

Ngoài ra, các bạn Việt Nam còn chuyển cho chúng tôi rất nhiều trang thiết bị mặt đất: cả một hệ thống đầy đủ cần thiết để phục vụ cho việc kiểm tra, sửa chữa máy móc cho máy bay, cả một hệ thống bao gồm cả thiết bị kiểm tra và đo đạc, dùng cho 4 máy bay…

Chúng tôi cũng có cơ hội xem xét một chiếc máy bay cường kích A-37 cùng các thiết bị phụ tùng thiết yếu và các tài liệu kỹ thuật đi kèm.

Máy bay này còn đơn giản hơn cả F-5. Khoang lái có cấu tạo theo kiểu tổ hợp nhưng lại vô cùng thuận tiện, các thiết bị được lắp đặt giống như trên 1 chiếc trực thăng.

Cùng với F-5, máy bay cường kích A-37 đã được Không quân Nhân dân Việt Nam sử dụng hiệu quả trên chiến trường Campuchia 

Phía Việt Nam chuyển giao lại cho chúng tôi 2 động cơ dự phòng, được đóng trong 2 container đóng kín, có bơm khí trơ bên trong.

Đây là cách giúp thiết bị không chịu tác động xấu của môi trường và giúp bỏ qua khâu kiểm tra trước khi lắp đặt động cơ vào máy bay.

AC-119 là loại máy bay vận tải hạng nhẹ được mệnh danh là “máy bay chống du kích”, có khả năng lắp đặt thêm vũ khí để tấn công mục tiêu trên mặt đất, cũng được các bạn Việt Nam gửi đến cho chúng tôi xem xét. Tuy nhiên, loại máy bay này không gây cảm hứng với chúng tôi ngoại trừ các trang thiết bị đặc biệt trên máy bay.

Trực thăng CH-47 Chinook và UH-1 biến thể chiến đấu là 2 loại trực thăng thu hút được sự chú ý của chúng tôi.

So với Mi-8, UH-1 có nhiều ưu thế hơn. Máy bay nhỏ gọn hơn, nhưng lại được trang bị nhiều vũ khí hiện đại hơn: 2 súng máy 6 nòng, rocket và tên lửa có điều khiển. Khoang lái được thiết kế thấp, 2 bên sườn trực thăng được bọc thép.

Trong vòng 10 ngày chúng tôi đã xem xét kĩ lưỡng, tỉ mẩn từng loại máy bay trên và gửi chúng sang Liên Xô. Những chiếc máy bay này sau đó được Viện Nghiên cứu khoa học thuộc Lực lượng Không quân Liên Xô nghiên cứu.

Những chiến lợi phẩm trên chắc chắn đã giúp ích ít nhiều cho các kỹ sư Nga trong việc nghiên cứu và chế tạo các mẫu máy bay mới, hiện đại và tiện dụng...



Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Chuyện có thật về kho báu Chàm khổng lồ

http://tintuc.timnhanh.com.vn/xa-hoi/20120824/35AC9F3B/Chuyen-co-that-ve-kho-bau-Cham-khong-lo.htm

Kho báu Chàm được đề cập trong phạm vi bài viết này không phải là thứ “vàng Hời”, “vàng tùy táng” nằm ẩn dưới cổ mộ của những chức sắc, người Chàm (Chăm) giàu có từng một thời gây xôn xao dư luận, được tìm thấy bởi những kẻ “cướp cổ mộ”. Được nhắc đến ở đây là những kho báu của các triều vua Chàm với nhiều vật báu có một không hai.

Lần theo nhiều thư tịch, lời đồn và những truyền thuyết, PV đã lần trở về quá khứ, để từ đó phác lộ sự thật về những kho báu của vua Chàm tại vùng đất cuối cùng của vương triều ngày trước ở 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Đó là những kho báu với nhiều bảo vật gấm vóc lụa là, đồ ngự dụng bằng bạc, vàng ròng, ngọc quý…

Trong một thời gian dài, chuyện về những kho báu của vua Chàm được người đời thêu dệt thành những huyền thoại. Người ta đồn đại và tin rằng những kho báu ấy từng một thời ẩn sâu trong lòng đất, được trấn giữ bởi những trinh nữ bị táng sống để bảo vệ bảo vật của vua. Người râm ran các kho tàng kho báu của vua Chàm vẫn còn ẩn dưới lòng đất, và cũng có lời đồn những kho bảo vật ấy đã biến mất theo dấu vết của thời gian, chiến tranh và những cuộc tàn phá, cướp bóc vào cái thuở lịch sử nhuốm đầy "mùi" binh đao, khói lửa.
472407981_4den1188
Đến lễ Katê hằng năm, người Raglai lại cử đoàn xuống núi mang theo vật báu đến đền Pô Klong Garai cúng vua. 
Nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi, những kho báu của vua Chàm với muôn vàn ngọc ngà châu báu… phần lớn ẩn giữa rừng sâu. Điều kỳ lạ là những kho báu ấy được gìn giữ bởi tộc người Churu và Raglai. Vì sao kho báu vua Chàm lại không được người Chàm gìn giữ. Vì sao lại có hiện tượng lạ như vậy?

Bao đời qua, chuyện về các vị vua Chàm cùng những kho báu đồ sộ với những chiếc rương bằng gỗ quý trĩu nặng vô số vật dụng, đồ trang sức, triều phục, biểu tượng quyền lực (kiếm và ấn triện) bằng các chất liệu vàng, bạc, ngọc ngà… luôn kích thích sự hiếu kỳ của người đời cũng như thu hút sự quan tâm của xã hội.

Người ta không thể không quan tâm, không thể không hiếu kỳ khi thi thoảng lại nở rộ thông tin có người tìm thấy nải chuối bằng vàng, con ngựa bằng vàng, pho tượng bằng vàng… tại ngôi cổ mộ, cánh đồng hay khu rẫy nào đó.

Ông Hồ Khải, hiện sống tại khu phố chuyên buôn đồ giả cổ Lê Công Kiều (quận 1, TP HCM) là người rất quan tâm đến thông tin về những kho báu Chàm. Hơn 50 năm sưu tầm, góp nhặt, trao đổi và mua bán, ông Khải đang nắm trong tay khối lượng cổ vật khổng lồ với hàng ngàn món.

Giữa la liệt kiếm cổ, ấn triện của các vương triều (chủ yếu triều Tây Sơn và triều Nguyễn), tượng cổ, đồ sành sứ trăm năm, các bảng sắc phong, các bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng… được ông Khải "cưng như trứng, hứng như hoa" những cổ vật liên quan đến các triều đại vua Chàm. Lý do theo thổ lộ của ông bởi đó là vương triều huyền bí, tài hoa trong việc chế tác những vật dụng sinh hoạt, trang sức tinh tế đến không tưởng!

Mỗi nhà sưu tập cổ vật có niềm đam mê riêng nên chuyện ông Khải không ngớt lời khen các món "cổ vật Chàm" mà ông đang sở hữu không có gì lạ. Sau khi khoe nhiều bức tượng cổ, hộp trang sức bằng bạc của những phụ nữ Chàm quyền quý, những cây kiếm lưỡi lượn sóng chuôi đồng thân thép xám lạnh huyền bí, ông Khải, tâm sự: "Điều đáng tiếc là tôi chỉ có được những món đồ dùng trong tùy táng, thờ cúng thần linh mà thôi. Kỳ thực tôi rất mong ước mình kiếm được những món đồ là vật báu của các triều vua Chàm để lại. Các vua Chàm để lại cho hậu thế rất nhiều kho báu, nhưng khổ nỗi vì chưa có duyên nên tôi chưa tuyển được món nào". 

 
 
344361734_news_pbdes "Người ta đồn người Chàm lưu giữ kỹ lưỡng những báu vật trong kho báu truyền đời từ các vua chúa của họ, họ chỉ đưa ra cúng quẩy vào lễ hội lớn rồi lại cất giấu rất kỹ, không cho bất kỳ ai xem". 1869763641_news_pbdes_2
 
Ông Hồ Khải
 

Phần lớn cổ vật Chàm mà ông Khải sưu tập được có nguồn gốc ở Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa và đặc biệt tại tỉnh Ninh Thuận, nơi mà theo ông "từng là giang sơn cuối cùng của các vua chúa Chiêm Thành".

Hàng trăm lần đi đi về về tuyến TP HCM - Ninh Thuận và ngược lại để săn tìm "cổ vật Chiêm Thành" mà dân gian vẫn quen gọi "Chàm", đi nhiều, ăn dầm nằm dề nơi núi rừng để lần theo những nguồn thông tin về các kho báu Chàm cũng như những người tìm được cổ vật Chàm để hỏi mua, bán chác, trao đổi… nên nói ông Khải là "tự điển sống" về cổ vật Chàm, không quá lời.

Cũng nhờ đọc nhiều và ham đọc mà ông Khải có khẳng định hoàn toàn trái ngược với những gì thiên hạ đồn đoán về những kho báu Chàm: "Người ta đồn người Chàm lưu giữ kỹ lưỡng những báu vật trong kho báu truyền đời từ các vua chúa của họ, họ chỉ đưa ra cúng quẩy vào lễ hội lớn rồi lại cất giấu rất kỹ, không cho bất kỳ ai xem".

Nói đến đây, ông Khải tặc lưỡi: "Những đồn đãi đó vừa đúng lại vừa sai. Đúng là chỉ khi tiến hành lễ Katê người ta mới được dịp chiêm ngưỡng những báu vật của vua chúa Chàm. Nhưng những báu vật này không phải do người Chàm lưu giữ mà là do người Raglai ở huyện miền núi Ninh Sơn, bảo quản. Khi có lễ hội thì họ mang xuống dâng cúng và kết thúc lễ thì lại mang báu vật về núi".

Chia sẻ của ông Khải gợi cho người viết bài này nhớ đến lần tham dự lễ hội Katê năm ngoái tại Ninh Thuận. Được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng cuối tháng 9 dương lịch), Katê là lễ hội thiêng liêng, là dịp để cộng đồng người Chăm tưởng nhớ các anh hùng dân tộc được họ tôn là thần vì đã ban giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Lễ hội Katê lần đó, chúng tôi dự tại đền Pô Klong Garai (dân gian quen gọi Tháp Chàm, tháp thờ vua Pô Klong Garai, được người Chàm xem là vị anh quân, là vị vua có tài dẫn thủy nhập điền giúp ruộng vườn khô cạn trở nên tươi tốt, dân chúng no ấm) và được dịp chứng kiến các vị chức sắc trong cộng đồng Chăm bày những chiếc ly, chén màu vàng từ trong một chiếc giỏ tre trước tháp chính rồi khấn cầu kính cẩn. Khi ấy, cứ nghĩ đó đơn thuần là những món đồ phục vụ cho lễ nghi, nào ngờ qua trò chuyện với ông Khải, mới biết ấy là những báu vật trong kho báu mà các vua chúa Chàm để lại cho hậu thế!

804591335_5sau1188_450
Sau khi tiếp nhận những báu vật trăm năm, các chức sắc Chăm đưa vào đền tháp chính với những nghi thức trang trọng. 

Vấn đề ở chỗ khẳng định của ông Khải rằng "kho báu của các vua Chàm do người Raglai giữ" liệu có hoàn toàn chính xác? Để làm rõ điều này, có dịp đến Ninh Thuận, người viết không bỏ lỡ cơ hội tìm hỏi các vị chức sắc Chàm để rõ thực hư. Qua các cuộc trò chuyện mới biết điều ông Khải chia sẻ hoàn toàn chính xác.

Theo tục lệ cổ truyền, đến dịp lễ Katê của người Chăm thì các làng Raglai (huyện Ninh Sơn, Ninh Phước) cử người rời núi cao mang theo các báu vật mà vua chúa Chàm ngày trước gửi gắm xuống các tháp để cùng dự lễ rồi mang trở về núi cất giữ. Báu vật mà họ mang theo gồm áo giáp, áo bằng vàng, mão bằng vàng, bảo kiếm, sắc phong của các triều vua Nguyễn cho vua Chàm, và các đồ ngự dụng của Vua Chàm...

Những tư liệu nghiên cứu ghi rằng theo thời gian, sau chiến tranh (sau năm 1975), vì nhiều lý do mà các báu vật kể trên không còn nữa nhưng người Raglai vẫn theo lệ xưa mang những gì còn sót lại mà người Chàm xưa gửi gắm như ly chén, sắc phong, áo vải đã cũ mục… xuống các đền tháp đã quy định trao cho các chức sắc Chăm hành lễ ở đền Pô Inư Nưgăr, tháp Pô Rômé, tháp Pô Klong Garai.

Ngoài những báu vật còn sót lại, người Raglai khi xuống núi cũng mang theo báu vật của chính mình, đó là những dàn mã la (nhạc cụ bằng đồng giống cồng chiêng Tây Nguyên nhưng không có núm) hàng trăm năm tuổi và tấu lên những âm thanh huyền bí để ngày hội Katê thêm phần long trọng.

Người Raglai hiện sinh sống tập trung tại 3 huyện của tỉnh Ninh Thuận gồm Bác Ái, Ninh Sơn và Ninh Phước. Đây là tộc người theo chế độ mẫu hệ, có nghĩa con gái cưới con trai. Người Raglai hiền lành, chân chất, yêu chuộng hòa bình và rất trọng chữ tín. Những chuyện lạ về phong tục Raglai, đặc biệt là tục con gái đi cưới chồng, chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác.

Vấn đề đặt ra ở đây là tộc người này liên quan gì với người Chàm. Đâu là lý do họ giữ những kho báu Chàm mà nhiều tư liệu ghi rằng do người Chàm gửi. Tại sao người Chàm lại không tự giữ những báu vật là di vật của tổ tiên, sao lại có sự lạ như vậy?!

Tiếp tục dò hỏi, lần tìm, người viết tình cờ biết được nhiều bí mật qua một số tư liệu xưa, đặc biệt qua bài viết về "Số phận những kho báu Chăm ở Lâm Đồng" của tác giả Đoàn Bích Ngọ, công tác tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng. Qua đó mới biết hơn 170 năm trước, các bảo vật Chàm vẫn do các thế hệ con cháu các vua Chàm giữ. Số phận lưu lạc của các bảo vật Chàm bắt đầu vào năm 1831, khi Lê Văn Khôi (con nuôi của Tổng trấn Lê Văn Duyệt) nổi loạn ở thành Phiên An (Gia Định), chống lại triều đình nhà Nguyễn, chiếm 3 tỉnh Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết.

Sau khi dẹp được Lê Văn Khôi, biết được số đông con cháu vua Chàm tích cực hợp tác với quân nổi loạn, Vua Minh Mạng đã thẳng tay đàn áp. Để tránh họa, một bộ phận người Chàm di cư sang Campuchia, số khác mang theo các bảo vật của tổ tiên lên núi sống với người Churu và Raglai. Mãi đến đời Vua Thiệu Trị, lệnh đàn áp mới được hủy bỏ. Dầu vậy con cháu của vua Chàm không mang di vật cha ông xuống núi mà gửi lại cho những bộ tộc đã chở che cho mình lúc hoạn nạn.

Quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết số báu vật mà con cháu của vua Chàm gửi cho người Churu (nay cư trú ở tỉnh Lâm Đồng) và người Raglai ngày trước rất nhiều với cả ngàn bảo vật, di vật cung đình. Nhưng do chiến tranh, loạn lạc và nạn săn lùng cổ vật mà người Churu hầu như chẳng còn lưu giữ được bao nhiêu bảo vật.

Số phận của hàng trăm món bảo vật của vua chúa Chàm (kho đựng đồ bạc, y phục của vua và hoàng hậu, mâm thờ bằng bạc, vương miện bằng vàng…) được gửi cho người Churu khép lại vào giai đoạn năm 1968-1969 khi 3 ngôi đền gồm đền Sóp, đền Krayo và đền Sópmadronhay mà người Churu xây dựng để thờ các vua chúa Chàm và lưu giữ kho báu đã bị máy bay Mỹ ném sập rồi đến lượt các toán quân Mỹ ùa vào hôi của.

Sau gần 200 năm, những kho báu mà người Chàm trao gửi cho người Raglai nay chỉ là con số khiêm tốn và được người Raglai lưu giữ qua nhiều thế hệ. Và cũng từ đây, hình thành mỹ tục cứ đến lễ hội Katê hằng năm, trước khi diễn ra ngày lễ chính (ngày 1 tháng 7 lịch Chăm), các làng Raglai có giữ báu vật của vua Chàm gửi gắm ngày trước lại cử người rời núi cao đến trao báu vật cho các chức sắc Chăm hành lễ, sau đó lại đón về bảo giữ nghiêm ngặt.

Được biết khi di chuyển xuống đồng bằng để hành lễ với người Chăm, đoàn người Raglai tập kết ở 3 địa điểm có tháp cổ linh thiêng được quy định sẵn gồm tháp Pô Rômê, đền Pô Inư Nưgăr và tháp Pô Klong Garai. Cũng cần nói rõ rằng trước khi mang báu vật xuống núi, bao giờ người Raglai cũng phải làm lễ. Lễ vật cúng thần là 1 con dê và hàng năm phải chúng thêm 5 mâm cơm và 2 con gà.

Còn một bí mật nhỏ khác quanh chuyện các kho báu Chàm được người Raglai lưu giữ mà người viết ghi nhận là như người Churu, sở dĩ người Raglai vẫn cất công, bền bỉ lưu giữ các báu vật mà vua chúa Chàm ngày trước gửi lại, và khi tình hình đã ổn, người Chàm cũng không có ý định thu hồi vì giữa người Raglai và người Chàm có mối quan hệ mật thiết, gần gũi như anh với em. Trong Non nước Ninh Thuận, tác giả Nguyễn Đình Tư ghi rằng "theo các nhà nhân chủng học, người Raglai được hình thành bởi giống Chàm và giống Rhadé… Do đó phong tục tập quán của người Raglai chịu ảnh hưởng của sắc dân Chàm". Nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học cho thấy khi giao tiếp, người Raglai Nam (cư trú ở huyện Ninh Sơn) và người Chăm có thể hiểu nhau đến 90%...

Chính vì sự gần gũi như chân với tay ấy mà khi gặp nạn, vua chúa Chàm đã tin cậy lên núi cao sống với "người anh em” của mình. Và với bản chất thật thà lại được sự gửi gắm kỳ vọng, bao năm qua người Raglai vẫn thủy chung, cố tâm gìn giữ những báu vật, không có ý định chiếm hữu làm của riêng. Chính điều này đã tạo nên dấu ấn lạ kỳ trong lịch sử, tạo nên phong tục đặc sắc mà không phải mấy ai cũng đuợc rõ căn cơ ẩn sau nó!

Theo một số tư liệu, Tây Đồ Di là tên gọi cổ của vương quốc Chàm ngày trước và tỉnh Ninh Thuận ngày nay là một phần của vương quốc này. Là tỉnh có người Chàm (Chăm) cư trú đông nhất, Ninh Thuận từng là kinh đô cuối cùng của vương triều Chàm nên địa phương này là nơi được đồn đại có nhiều khó báu Chàm bí hiểm! Vậy trên đất Ninh Thuận từng có bao nhiêu kho báu của vua chúa Chàm? Một, hai hay nhiều hơn thế?

Kho tàng Chàm đầu tiên mà PV muốn chia sẻ với bạn đọc được ghi nhận tại thôn Phước Đồng, xã Hậu Phước, quận An Phước (nay là xã Phước Thái, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm). Kho tàng này chứa rất nhiều bảo vật của Vua Pô Glong Garai và được người Chàm lưu giữ.

Cần lưu ý rằng có không ít người nhầm lẫn vua Pô Glong Garai là Vua Pô Klong Garai. Sử Việt gọi Vua Pô Klong Garai là Chế Mân, còn theo tiếng Phạn, ông chính là Vua Sinhavarma đệ III (hiện ở Phan Rang - Tháp Chàm có ngôi tháp cổ trên đỉnh đồi Trầu do chính Vua Pô Klong Garai cho xây dựng vào thế kỷ XIII và được người Chàm lấy tên vua đặt cho tháp). Sở dĩ vua Pô Klong Garai được dân tộc Chàm tôn là thần bởi trong quá khứ, ông là vị vua mưu trí, thao lược, có tài dẫn thủy nhập điền). Riêng về Vua Pô Glong Garai, người viết dù đã cất công tìm hiểu nhưng không tìm được thông tin gì ngoài kho báu mà vị vua Chàm này để lại cho hậu thế!

Vậy kho tàng Pô Glong Garai có những báu vật gì, số lượng bao nhiêu? Đầu thế kỷ XX, ông H.Parmentier, nhà khảo cổ học người Pháp, khi đến thăm kho báu này đã có bản kiểm kê chi tiết ghi lại trong tập kỷ yếu của Trường Viễn đông Bác cổ tập V (1905) với nhan đề "Le Trésor des Rois Chams". Nhờ sự tỉ mẩn của H.Parmentier mà hậu thế biết được kho tàng Pô Glong Garai có 173 món đồ, gồm 1 món bằng vàng, 84 món đồ bằng bạc, số còn lại là những cổ vật bằng các chất liệu đồng, đồng thau (đồng pha thiếc), thiếc, gỗ, đồi mồi.

Có thể liệt kê những bảo vật tiêu biểu trong kho tàng của Vua Pô Glong Garai như sau: Các lá cây viết chữ Chàm, 1 hộp khảm vàng (nắp đậy bằng đồng đỏ và vàng, trong có một hộp khác bằng bạc), 1 hộp bằng đồi mồi đỏ và trong suốt (phía trong mạ vàng, có khay bạc, núm nắp đậy bằng vàng), 2 gương soi (một đặt trong nửa trái dừa và cái còn lại gắn trong vỏ ốc mỏng), 1 hộp đựng cau bằng bạc có núm vàng đỏ, 1 hộp đựng vôi bằng bạc (chạm vảy cá, nắp có gắn một miếng thủy tinh, 1 cái bát nhỏ bằng đồng còn vôi), một số dao ăn trầu lớn nhỏ khác cỡ (sống dao có cái bằng bạc hay bằng đồng, cán dao bằng gỗ hoặc sừng), 1 ống nhổ bằng thiếc, 1 lược đồi mồi xung quanh viền bạc, một số nhẫn đeo tay lớn nhỏ đủ cỡ….

Căn cứ vào bảng phân loại và mô tả kích cỡ, chất liệu của các món đồ trong kho tàng, các chuyên gia khảo cổ đoán định những hộp đựng trà, thuốc hút, trầu cau, vôi ăn trầu trong kho tàng là của vua, các bà hoàng và công chúa. Trong tổng số gần 200 món đồ xưa cổ có giá trị về phương diện khảo cổ và bảo tàng, chúng tôi đặc biệt ấn tượng trước những bảo vật là hộp klong. Kho tàng được ghi nhận có 1 hộp klong hình ống bằng đồng, 1 hộp klong chất liệu bạc chạm hình miếng trám đã mất nắp. Ngoài ra còn một số hộp klong khác bằng đồng hoặc trơn hoặc chạm trổ.

Những hộp klong trong kho tàng kể trên được dùng để đựng xương trán người chết trước khi đưa vào kút ở nghĩa trang. Tìm hiểu về những bí ẩn của hộp klong và mộ kút, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước tục an táng người chết kỳ lạ của người Chàm tại Ninh Thuận. Sau khi được hỏa táng, tro cốt của người chết được cho vào kút để tại nghĩa trang của gia tộc. 

935921740_4rat1189
Rất nhiều câu chuyện về những kho tàng Chàm nay chỉ còn trong ký ức của những bậc cao niên - ông Lâm Tấn Bình. 
Có nhiều hình dạng khác nhau, kút là mộ chí của người Chàm (ngày trước được tạc bằng đá theo dạng hình người với dáng điệu nghiêm trang nhưng nay đa phần chỉ còn là phiến đá trên nhỏ dưới to). Để được vào kút, người chết phải hội đủ một số điều kiện bắt buộc và phải trải qua nhiều nghi lễ, trong đó có nghi lễ lấy xương trán (nếu là nam lấy 7 miếng, nữ lấy 9 miếng) rồi mài các mảnh xương ấy cho nhẵn nhụi thành cỡ dáng đồng tiền rồi cho vào chiếc hộp klong.

Trong thời gian chờ đợi nhập kút, hộp klong đa phần được chôn kín ở rừng sâu hay nơi bụi rậm… Với người bình dân hoặc người nghèo, hộp klong được làm bằng thiếc nhưng với gia đình giàu có, nhất là người của hoàng tộc, hộp klong được làm bằng bạc hoặc vàng!

Kho tàng liên quan đến các vua chúa Chàm thứ 2 nằm ở thôn Hậu Sanh, thuộc địa phận xã Hữu Phước, quận An Phước (nay là xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước). Có tên Chàm là Palei Thvon, kho tàng này chứa các bảo vật của Vua Pô Rômé, vị vua cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành. Như Vua Pô Klong Garai, Vua Pô Romé được người Chàm thờ phụng như một vị thần linh tại ngôi tháp mang tên của chính mình, tháp Pô Rômé (thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu).

Căn cứ vào các bia văn nơi cổ tháp, hậu thế được biết tháp do chính Vua Pô Rômé xây dựng vào thế kỷ thứ 17. Tương truyền Vua Pô Rômé được mẹ sinh ra ở gốc cây, lớn lên tướng mạo khôi ngô tuấn tú, có tài bắn cung, được vua Mưh Ta Ha trọng dưỡng và gả con gái là Công chúa Bia Thanh Chih, sau cùng truyền ngôi vua vào năm 1627 dương lịch. Có một điều lạ là sử sách ghi Vua Pô Rômé lên ngôi vào năm con Thỏ theo lịch Chàm và khép lại sự sống lẫn vương triều của mình cũng vào năm con thỏ, tức năm 1651 dương lịch.

548840076_5mot1189_450
Một số cổ vật của vua Chàm từng được người Churu ở Lâm Đồng cất giữ. Ảnh tư liệu của Bảo tàng Lâm Đồng.  

Không được đồ sộ như kho tàng của Vua Pô Glong Garai, số lượng bảo vật thuộc về kho tàng của Vua Pô Rômé khiêm tốn hơn nhiều. Thống kê của chuyên gia khảo cổ H.Parmentier vào năm 1905, cho thấy kho tàng này có những bảo vật như sau: 1 hộp klong bằng bạc, 1 chén gỗ, 13 chiếc nhẫn, 3 bông tai vàng, 7 chiếc vòng đồng, 1 chén có nắp bằng vàng, 10 chiếc bát bằng bạc, đồng, hợp kim chạm rồng, chạm hình vảy và hình răng cưa… Ngoài ra còn có một số tài liệu cổ viết chữ Chàm và vật dụng khác.

Điều đặc biệt là trong bảng thống kê của H.Parmentier không hề nhắc gì đến một mảnh phía trước của chiếc mũ bằng vàng của Vua Pô Romé. Thông tin về mảnh vàng này được các chuyên viên của Viện khảo cổ Sài Gòn khi đến thôn Hậu Sanh kiểm kê kho tàng ghi nhận vào năm 1959. Theo các bậc cao niên ở vùng, nhiều khả năng vì không mấy an tâm, tin tưởng H.Parmentier nên tiền nhân đã giấu di vật quý!

Trên đây là 2 kho tàng liên quan đến các vua chúa Chàm được lịch sử ghi nhận. Các tư liệu nghiên cứu cho thấy ngoài 2 kho tàng hoàng gia này, đất Ninh Thuận còn có 1 kho tàng khác với nhiều đồ thờ cúng nữ thần Pônagar (Thiên Y A Na) tại ngôi đền thờ vị thần nữ này ở thôn Hữu Đức, xã Hữu Phước, quận An Phước (nay là xã Phước Hữu). Kho tàng này rất khiêm tốn về số lượng bảo vật.

Thống kê vào năm 1905 của H.Parmentier cho thấy kho tàng Pônagar này chỉ có 8 cái tô đồng, 2 tô bạc lớn nhỏ khác nhau, 1 tập giấy viết chữ Chàm và một ít đồ bằng vải. Thế nhưng vào năm 1959, khi đến kiểm kê, phái đoàn chuyên viên Viện khảo cổ Sài Gòn phát hiện kho tàng này chứa những món đồ khác biệt với ghi nhận của nhà khảo cổ H.Parmentier. Kho tàng lúc này có 7 món đồ, gồm 1 bình vôi bằng bạc, 1 cái cáng có mui, 1 hòm sắt không có đựng sắc phong và 4 đồ bằng đồng.

Như vậy, vùng đất Ninh Thuận có ít nhất 3 kho tàng liên quan đến thần linh và vua chúa Chàm. Những kho tàng này được tác giả Nguyễn Đình Tư đề cập khá cặn kẽ trong cuốn Non nước Ninh Thuận. Theo ông Nguyễn Đình Tư, kỳ thực Ninh Thuận có đến 4 kho tàng Chàm. Ngoài 3 kho tàng nói trên, còn có một kho tàng được lưu giữ ở một địa danh được gọi là Giá. 

2002380789_5hop1189_450
Hộp klong, những bộ chén tách bằng bạc, đồng còn sót lại trong một kho tàng của vua chúa Chàm ngày trước. 

Kho tàng này chứa rất nhiều bảo vật quý giá có liên quan đến nữ thần Pônagar nhưng chẳng hiểu vì lý do gì, tới ngày nay vẫn chưa có nhà khảo cổ nào được tận mắt chiêm ngưỡng kho báu. Nên những báu vật trong kho tàng ở Giá đến nay vẫn là ẩn số?!

Đến đây hẳn sẽ có không ít bạn đọc băn khoăn chẳng rõ số phận của các bảo vật trong những kho báu kho tàng ấy, đặc biệt các bảo vật là di sản của vua, chúa Chàm - hiện thân huy hoàng của thuở xa xưa, bây giờ ra sao?!

Như đã nói ở trên, vào năm 1905, kho tàng của Vua Pô Glong Garai được nhà khảo cổ người Pháp thống kê có 173 món đồ. Hơn 5 thập niên sau (năm 1959), ông Nghiêm Thẩm, nhà khảo cổ đầu tiên người Việt lần đầu tiên đến kiểm kê, xem xét kho tàng này không khỏi xúc động khi toàn bộ vật báu trong kho tàng còn y nguyên. Ấy thế nhưng sau đó, vì chiến tranh, nạn cướp bóc, nạn đánh cắp cổ vật… đã biến kho tàng này trở thành bóng hình của một thời quá vãng.

Kho tàng của Vua Pô Rômé cũng đau thương không kém. Năm 1905, H.Parmentier thống kê kho tàng này có trên 100 hiện vật nhưng khổ thân cho kho tàng này, 43 năm sau (1948), vì chiến tranh và một đám cháy lớn mà phần lớn cổ vật bằng kim khí bị thất lạc. Thê thảm hơn, những văn tự cổ xưa, áo gấm của vua, hoàng hậu, công chúa… bị lửa liếm thành tro bụi.

Vào năm 1959, khi chuyên viên Viện khảo cổ Sài Gòn đến kiểm kê chỉ còn thấy 14 món đồ kim khí còn sót lại. Và giờ đây, chẳng còn mấy ai biết kho tàng này còn bao nhiêu cổ vật, hay đã "sạch" cả rồi! Nỗi niềm không mong đợi này cũng xảy ra với kho tàng chứa các đồ thờ cúng của thần nữ Pônagar ở thôn Hữu Đức.

Vậy đấy, thật buồn khi phải nói rằng những kho tàng Chàm ngày nào nay chẳng còn gì, có chăng chỉ còn trong các tư liệu và hoài niệm đang dần chìm vào lãng quên của những người già. Điều này đồng nghĩa với việc những ai ước mong được một lần trong đời tận mắt chứng kiến các vật báu trong những kho tàng Chàm sẽ vĩnh viễn không có được cái may mắn ấy.

Tuy nhiên, với linh cảm của mình, người viết tin rằng ngoài những báu vật đang được người Raglai lưu giữ, một phần vật báu trong các kho tàng của vua chúa Chàm ngày nào vẫn còn ẩn đâu đó trong nhân gian mà chỉ những ai thực sự có duyên mới được mục ngưỡng! Điều này đồng nghĩa với việc kho báu Chàm vẫn luôn là kho báu bí ẩn, sẽ tiếp tục là ẩn số với những ai quan tâm đến số phận của nó!


Theo Công An Nhân Dân